Tiết 2: Nguyễn Ái Quốc tìm đường giải phóng dân tộc

Tháng Sáu 8, 2012

Tiết số 02:  Nguyễn Ái Quốc tìm đường giải phóng dân tộc (Biên soạn: Đỗ Hoàng Ánh   © 123Chiase 2007)

Đọc tiếp »


Tiết 1: Sự chuyển biến về kinh tế, xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Tháng Sáu 8, 2012

Sự chuyển biến về kinh tế, hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (Biên soạn: Đỗ Hoàng Ánh   © 123Chiase 2007)

Đọc tiếp »


ĐƯỜNG LỐI QUÂN SỰ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Tháng Sáu 6, 2012

ĐƯỜNG LỐI QUÂN SỰ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM:

hệ thống các quan điểm và chủ trương chỉ đạo việc chuẩn bị và tiến hành chiến tranh nhân dân chống lại sự xâm lược và ách thống trị của đế quốc nhằm giải phòng dân tộc và bảo vệ tổ quốc Việt Nam. Đó là các quan điểm cơ bản về tính chất và đặc điểm của khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng; về đối tượng tác chiến chiến lược; về nhiệm vụ quân sự của Nhà nước và của lực lượng vũ trang, về xây dựng các lực lượng vũ trang, xây dựng hậu phương, xây dựng nền quốc phòng; về phương thức tiến hành chiến tranh và nghệ thuật quân sự. ĐLQSCĐCSVN là một bộ phận của đường lối cách mạng.

Đọc tiếp »


GIƯƠNG CAO NGỌN CỜ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA Xà HỘI, Bài học GIƯƠNG CAO NGỌN CỜ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XàHỘI

Tháng Sáu 5, 2012

GIƯƠNG CAO NGỌN CỜ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA HỘI

Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là bài học được Đại hội lần thứ IV của Đảng rút ra từ thực tiễn phong phú của cách mạng nước ta, được các Đại hội lần thứ V, VI, VII, VIII, IX, X, XI (2011) của Đảng tiếp tục khẳng định và phát triển với nội dung mới qua tổng kết kinh nghiệm tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên phạm vi cả nước.

Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đường lối đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng, là ngọn cờ bách chiến bách thắng của cách mạng Việt Nam. Đó vừa là bài học, vừa là nguyên nhân, nguồn gốc, cơ sở vững chắc cho những thành công có ý nghĩa lịch sử của Việt Nam trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Bài học trên là sự phản ánh sinh động xu thế cách mạng của thời đại cũng như của nước ta, không những chỉ ra nguồn gốc thắng lợi của cách mạng Việt Nam trước đây, mà còn chỉ ra những yếu tố bảo đảm tính đúng đắn của đường lối và sự thắng lợi của cách mạng trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Đọc tiếp »


ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI: BỐI CẢNH, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ (ĐH XI)

Tháng Sáu 5, 2012

ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI: BỐI CẢNH

Trong các Văn kiện Đại hội XI cũng đánh giá kỹ tình hình thế giới và khu vực; đề ra các mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản cho đường lối, chính sách đối ngoại phù hợp với bối cảnh mới. Văn kiện Đại hội XI vừa kế thừa, vừa bổ sung, phát triển quan điểm của các Đại hội trước => cho biết một số nội dung cơ bản liên quan đến vấn đề này?

Nhận thức kịp thời và đúng đắn về thời đại và bối cảnh quốc tế luôn luôn là một trong những chủ đề hàng đầu trong các văn kiện cơ bản của các chủ thể trong đời sống chính trị quốc gia. Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa hiện nay, khi mỗi quốc gia dân tộc trở thành bộ phận của một thế giới, tùy thuộc lẫn nhau một cách hữu cơ, sống còn, chủ đề đó càng có ý nghĩa cấp thiết gấp bội.

Đọc tiếp »


VÀI NÉT VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG TRƯỚC NĂM 1975

Tháng Sáu 5, 2012

VÀI NÉT VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG TRƯỚC NĂM 1975

Thứ nhất: Đối ngoại là một lĩnh vực hoạt động quan trọng đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định từ rất sớm.

Trong tác phẩm “Đường cách mệnh” (Xuất bản năm 1927), Nguyễn Ái Quốc xác định “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả”. Ngay từ ngày mới thành lâp Đảng ta đã coi “Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, phải thực hành liên hệ với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp”.

Tiếp đến Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930 bổ sung “Cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng thế giới, vì thế giai cấp vô sản Đông Dương phải đoàn kết gắn bó với giai cấp vô sản thế giới, trước hết là giai cấp vô sản Pháp và phải mật thiết liên lạc với phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa nhằm mở rộng và tăng cường lực lượng cho cuộc đấu tranh cách mạng ở Đông Dương”.

Thứ hai: Từ đó đường lối đối ngoại của Đảng không ngừng được tiếp tục được bổ sung và phát triển.

Qua các kỳ đại hội, qua đại hội XI….

Từ khi được thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định đối ngoại là một mặt trận quan trọng, góp phần bảo đảm sự thành công của cách mạng Việt Nam. Đến năm 1975 đất nước hoàn toàn thống nhất, lịch sử hoạt động đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua hơn 45 năm trường kỳ, gian khổ, nhiều hy sinh mất mát nhưng cũng đầy oanh liệt, oai hùng.

Là sản phẩm sáng tạo của tư duy lý luận của Đảng kết hợp vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể cách mạng Việt Nam, quán triệt sâu sắc mục tiêu, quan điểm đối ngoại, nội dung đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện qua các giai đoạn tương ứng:

Đọc tiếp »


HIỆP ĐỊNH GENÈVE 1954, HIỆP ĐỊNH PARIS 1973

Tháng Sáu 5, 2012
Tiếng Việt: Chữ ký của Bộ trưởng ngoại giao Vi...

Tiếng Việt: Chữ ký của Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Duy Trinh và Bộ trưởng ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình tại Hiệp định Paris 1973 về Việt Nam (Photo credit: Wikipedia)

HIỆP ĐỊNH GENÈVE 1954

* Cuộc đấu tranh ngoại giao ở Genève diễn ra gay go và phức tạp, cuối cùng đi đến ký kết Hiệp định ngày 21-7-1954. Hiệp định Genève 1954 về Đông Dương có những nội dung chính như sau:

-Chính phủ Pháp và các nước tham dự Hội nghị tuyên bố: ”Mỗi nước tham gia Hội nghị Genève cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của những nước trên (tức Việt Nam, Lào. Campuchia và tuyệt đối không can thiệp vào nội trị của những nước đó”

– Hai bên phải ngừng bắn, tập kết quân đội về hai vùng, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời cùng với một khu phi quân sự ở hai bên giới tuyến. “Giới tuyến quân sự chỉ có tính chất tạm thời, hoàn toàn không thể coi là ranh giới về chính trị và lãnh thổ”. Hiệp định cấm việc đưa quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí nước ngoài vào ba nước Đông Dương. Các nước ngoài không được đặt căn cứ quân sự ở Đông Dương. Các nước Đông Dương không được gia nhập những khối liên minh quân sự và không được để các nước khác dùng lãnh thổ của mình để gây lại chiến tranh hoặc phục vụ mục đích xâm lược.

– Việt Nam sẽ thực hiện thống nhất bằng cuộc tổng tuyển cử tự do trong cả nước. Cuộc tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7- 1956 dưới sự kiểm soát của một Uỷ ban quốc tế (gồm Ấn Độ, Ba Lan, Canađa do Ấn Độ làm Chủ tịch).

– Trách nhiệm thi hành Hiệp định Genève thuộc về những người kí hiệp định và những người kế tục của họ.

* Mỹ không kí vào bản tuyên bố chung của Hội nghị, mà ra một tuyên bố riêng cam kết tôn trọng Hiệp định Genève về Đông Dương.

* Tuy còn có những hạn chế, nhưng Hiệp định Genève 1954 về Đông Dương là một thắng lợi lớn; bởi vì: ”Hiệp định Genève đã trịnh trọng công nhận chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân anh em Lào và Campuchia. Các nước phương Tây, Mỹ, Anh, Pháp tham gia Hội nghị ấy đều cam kết tôn trọng những quyền dân tộc bất khả xâm phạm đó” (Hồ Chí Minh)

HIỆP ĐỊNH PARIS 1973

* Ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris về lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký. Nội dung Hiệp định gồm những điều khoản cơ bản sau:

– Hoa Kỳ và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

– Hoa Kỳ rút hết quân viễn chinh và quân các nước thân Mỹ, phá hết các căn cứ quân sự Mỹ, cam kết không dính líu quân sự hoặc can thiệp vào nội bộ của miền Nam Việt Nam.

– Các bên để nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị thông qua tổng tuyển cử tự do.

– Các bên công nhận thực tế miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và ba lực lượng chính trị.

– Các bên ngừng bắn tại chỗ, trao trả tù binh và dân thường bị bắt.

– Hoa Kỳ cam kết góp phần vào việc hàn gắn các vết thương chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương.

* Ngày 2-3-1973, Hội nghị quốc tế về Việt Nam được triệu tập tại Paris  gồm đại biểu của 12 nước là Liên Xô, Trung Quốc, Anh, Pháp, bốn bên tham gia ký kết Hiệp định và bốn nước trong Uỷ ban giám sát và kiểm soát quốc tế (Ba Lan, Canada, Hungarie, Indonesia), với sự có mặt của ông Tổng thư ký Liên Hợp Quốc. Tất cả các nước tham dự Hội nghị đã ký vào bản Định ước công nhận về mặt pháp lý quốc tế Hiệp định Paris về Việt Nam và  đảm bảo cho Hiệp định được thi hành nghiêm chỉnh.

* Hiệp định Paris về Việt Nam là một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của quân và dân ta trong cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất vì độc lập tự do, tạo ra bước ngoặt mới cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đó cũng là một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của mặt trận đấu tranh ngoại giao nói riêng. Nhân dân ta đã căn bản hoàn thành sự nghiệp “đánh cho Mỹ cút”, làm so sánh lực lượng trên chiến trường thay đổi có lợi cho ta, tạo điều kiện  thuận lợi cho quân và dân ta tiếp tục tiến lên “đánh cho ngụy nhào”, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.