Tài liệu: Thông tin học phần & Đề cương học phần Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam

Thông tin học phần

Đề cương học phần

Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam

Đặc điểm học liệu:

  • – Thông tin chi tiết, đầy đủ, dể hiểu về học phần
  • – Các chủ đề chính, nội dung trọng tâm của học phần
  • – Hệ thống các vấn đề ôn tập, thảo luận
  • – Kho / Ngân hàng đề thi, câu hỏi
  • – Tài liệu tham khảo; học liệu (bắt buộc, khuyến cáo, tham khảo)
  • – Tập hợp, sưu tầm toàn văn điện tử các tài liệu tham khảo, các bài báo, các công trình khoa học…

Hy vọng tài liệu sẽ là tấm “bản đồ” môn học tốt cho sinh viên, là tài liệu tham khảo tốt cho các giảng viên!

(xem tiếp “Đọc tiếp” bài viết để tải học liêu về)

Bạn nào cần bản toàn văn PDF/Word/ODF của các các tài liệu liệt kê bên dưới thì email nhé! chúc vui!

https://duongcachmenh.wordpress.com/2011/11/14/tailieu-thongtinhocphan-decuonghocphan-dlcm/

Địa chỉ tải về:

http://www.mediafire.com/?inu15jltucgpb

Tất cả vì sinh viên thân yêu, vì sự hiếu động của tư duy!

“Giảng dạy lịch sử, chúng ta cần thảo luận nhiều về những nhân vật đã đem lại lợi ích cho toàn nhân loại qua cá tính và khả năng phán xét độc lập của họ”. || “Những lời phê bình của sinh viên cần phải được cân nhắc với tinh thần thân thiện. Kiến thức của bậc thầy không phải là để đàn áp suy nghĩ độc lập của sinh viên“.
(Einstein)

=====================

Học liệu

9.1 Học liệu bắt buộc

[1]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011): Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam (Dành cho sinh viên đại học, cao đẳng khối không chuyên ngành Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – tái bản có sửa chữa, bổ sung), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội.

[2]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006): Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (dành cho các trường đại học và cao đẳng), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội.

[3]. Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (2011): Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ năm 1986 đến nay, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội.

9.2 Học liệu khuyến cáo

[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2010): CD-ROM Hồ Chí Minh Toàn tập (bộ mới), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội.

[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011): CD-ROM Văn kiện Đảng Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội.

[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008): CD-ROM: Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội.

[4]. Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1995): Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thắng lợi và bài học, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội.

[5]. Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1996): Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thắng lợi và bài học, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội.

[6]. Nguyễn Tiến Hoàng Phạm Văn Linh (2011): Những nội dung chủ yếu và mới trong các văn kiện Đại hội XI của Đảng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội.

9.3 Học liệu tham khảo

 * Học liệu tham khảo chung:

[1]. Nguyễn Ái Quốc (2008): Bản án chế độ thực dân Pháp, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[2]. Lê Mậu Hãn (2000): Các cương lĩnh cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[3]. Michael Sandel (2011): Justice: What’s the Right Thing to Do? (Phái trái đúng sai), Nhà xuất bản Trẻ.

[4] Bộ học liệu môn Đường lối Cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam (DLCM2011V5-DVD)

Giảng viên đã biên soạn, phát triển và sưu tập các học liệu liên quan tới việc giảng dạy, học tập, vận dụng các nội dung trong học phần Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam.

Học liệu trong này gồm:

+ Bài giảng điện tử (website độc lập & bài giảng điện tử tích hợp với hệ thống học tập điện tử – elearning)

+ Bài trình chiếu (đôi khi chúng ta cũng gọi là bài giảng điện tử) cho 8 chương của học phần được định dạng pdf & ppsx.

+ Sổ ghi chép theo bài trình chiếu

+ Sổ tay học phần; Giáo trình kết hợp

+ Tư liệu giảng dạy – học tập (phim, âm thanh và tranh ảnh)

+ Website quản lý học tập – giảng dạy học phần

+ Bài giảng nên học tập từ đại học Harvard

Tải về tại: https://duongcachmenh.wordpress.com  , http://gvllct.wordpress.com hoặc liên hệ tác giả.

Ngoài ra sinh viên có thể tra cứu các tài liệu trên Internet theo một số địa chỉ như:

  • Trang tin và nhóm thảo luận mônĐường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam

+ Trang tin Vui như đi học: http://sites.google.com/site/vuinhudihoc/    (cung cấp các thông báo và tài liệu chính thức của môn học)

+ Nhóm Vui như học: http://groups.google.com.vn/group/vuinhuhoc/   – dùng để trao đổi, giao lưu, thảo luận, giải đáp thắc mắc…

* Học liệu tham khảo cho các chương:

 Chương mở đầu

(1)    Nông Đức Mạnh (2007 ): “Cần có những đột phá vê lý luận, tạo cơ sở vững chắc cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng trong thì kỳ mới”, TC Cộng sản, Số 774 trang 6-12.

(2)    Nguyễn Viết Thảo (2006 ): “Đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng trong tình hình hiện nay trên các tạp chí lý luận “, TC Khoa học chính trị Số 5, trang 27-30, 22.

(3)    Hoàng Mạnh Đoàn (2009): “Về bản chất cách mạng và khoa học của Đảng cộng sản Việt Nam.”, TC Lịch sử Đảng, Số 11, trang 42-44.

(4)    Hồ Sỹ Lộc (2005): “Những cống hiến to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lịch sử dân tộc trong 75 năm qua (1930-2005)”, TC Khoa học xã hội, Số 2, trang 3-13.

(5)    Trần Thị Thu Hương (2004): “Vai trò của tư liệu lịch sử trong nghiên cứu lịch sử Đảng cộng sản Việt nam”, TC Lịch sử Đảng, Số 10, trang 71-75.

(6)    Trần Phương Hoa (2006): “Nhận thức lịch sử – quan điểm của các học giả Châu Âu và Việt Nam”, Nghiên cứu châu Âu, Số 4, trang 55-62.

(7)    Lê Mậu Hãn (2007): “Nguồn tài liệu gốc ở các Trung Tâm lưu trữ với giá trị khoa học của các công trình lịch sử”, TC Văn thư Lưu trữ Việt Nam, Số 8, trang 33-36.

(8)    Hà Văn Tấn (1988): “Lịch sử, Sự thật và Sử học”, Tạp chí Tổ quốc, Một số vấn đề Lý luận Sử học – Nxb ĐHQGHN, 2007.

(9)    Vũ Quang Hiển (2011): “So sánh nguồn sử liệu trong nghiên cứu lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam”, khoalichsu.edu.vn.

Chương I

(1)       Phạm Xanh (2009): “Quốc tế cộng sản với cách mạng Việt Nam.”, TC Lịch sử Đảng, Số 4, trang 57-62.

(2)       Lê Văn Tính (2009): “Nguyễn Ái Quốc với Quốc tế Cộng sản”, TC Lịch sử Đảng, Số 1, trang 19-27.

(3)       Nguyễn Tấn Hưng (2008): “Ảnh hưởng của “Luận cương V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” đối với sự hình thành tư tưởng Nguyễn ái Quốc về con đường cách mạng Việt Nam”, TC Khoa học chính trị, Số 3, trang 10-15.

(4)       Ngô Minh Hoàng (2005): “Cách mạng Tháng Mười Nga trong tư tưởng, tình cảm của Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh”, Sinh hoạt lý luận, Số 5, trang 29-30, 34

(5)       Nguyễn Trọng Phúc (2005): “Tính tất yếu lịch sử và quy luật ra đời, phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam”, Lý luận chính trị, Số 2, trang 3-8.

(6)       Song Thành (2000): “Những cống hiến lịch sử của Nguyễn ái Quốc vào quá trình thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam”, Thông tin khoa học xã hội, Số 1, trang 3-9.

(7)       Hoàng Trang (2009): “Quan điểm của Hồ Chí Minh về con đường cứu nước, giải phóng dân tộc.”, TC Lịch sử Đảng, Số 4, trang 15-20.

(8)       Trần Thành (2010): “Sáng tạo của Hồ Chí Minh trong giải quyết mối quan hệ giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp”, TC Lịch sử Đảng, Số 5, trang 35-40.

(9)       Nguyễn Tấn Hưng (2008): “Chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, Triết học, Số 9, trang 79-83.

(10)    Tô Huy Rứa (2010): “Công hiến to lớn của chủ tịch Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, Thông tin đối ngoại, Số 5, trang 13-22.

(11)    Nguyễn Hùng Hậu (2005): “Từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống đến chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh”, Triết học, Số 9, trang 17-21.

(12)    Lê Mậu Hãn (2009): “Tư tưởng độc lập tự do với chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh.”, TC Lịch sử Đảng, Số 12, trang 22-27.

(13)    Đinh Trần Dương (2009): “Vai trò của Tân Việt cách mạng Đảng trong lịch sử Việt Nam.”, TC Lịch sử Đảng, Số 1, trang 47-51.

(14)    Nguyễn Văn Khánh (2005): “Việt Nam Quốc dân đảng – những kinh nghiệm lịch sử cho cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam”, TC Lịch sử Đảng, Số 3, trang 60-63.

(15)    Đinh Trần Dương (2004): “Tân Việt với việc cổ vũ tinh thần yêu nước trong công nhân (1925 – 1929)”, TC Lịch sử Đảng, Số 3, trang 47-50.

(16)    Phạm Đào Thịnh (2007): “Tư tưởng chính trị Phan Bội Châu trong tiến trình lịch sử tư tưởng Việt Nam”, TC Khoa học chính trị, Số 6, trang 47-52.

(17)    Đinh Xuân Lâm (2008): “Bước đầu tìm hiểu mối quan hệ giữa Nguyễn Ái Quốc và Phan Bội Châu”, Thông tin khoa học xã hội, Số 5, trang 3-10.

(18)    Dương Văn Khoa (2008): “Hồ Chí Minh nghĩ về khả năng cách mạng của giai cấp tiểu tư sản Việt Nam”, TC Xưa và Nay, Số 307, trang 4-6.

(19)    Chu Đức Tính (2009): “Hoạt động của Nguyễn ái Quốc trong những năm 1934 – 1938 (qua một số tài liệu mới sưu tầm).”, TC Lịch sử Đảng, Số 5, trang 47-53.

(20)    Nguyễn Trọng Chuẩn (2010): “Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, Triết học, Số 5, trang 15-18.

(21)    Nguyễn Trọng Phúc (2009): “Nguyễn ái Quốc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân (1911 – 1941).”, TC Lịch sử Đảng, Số 5, trang 9-15,42.

(22)    Trần Thanh Nhàn (2007): “Nguyễn ái Quốc và hội Việt Nam cách mạng thanh niên trong mối quan hệ với Trung Quốc những năm 1924 – 1927″, TC Khoa học xã hội, Số 1, trang 55-68.

(23)    Nguyễn Thuý Đức (2009): “Nguyễn ái Quốc với phong trào yêu nước của Việt Kiều tại Pháp (1917-1923).”, TC Lịch sử Đảng, Số 4, trang 21-26.

(24)    Nguyễn Văn Khánh;  Nguyễn Mạnh Công (2009): “Nguyễn ái Quốc với tổ chức Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp (1917 – 1923)”, TC Lịch sử Đảng, Số 7, trang 38-43.

(25)    Phạm Thị Lai (2009): “Nguyễn ái Quốc với việc thiết lập đường dây liên lạc giữa Quốc tế Cộng sản với cách mạng Việt Nam (1923 – 1927)”, TC Lịch sử Đảng, Số 5, trang 21-26.

(26)    Chu Đức Tính;  Phạm Thị Lai (2008): “Phát hiện toàn văn bản Báo cáo Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ của Nguyễn ái Quốc”, Tuyên giáo, Số 7, trang 14-19.

(27)    Nguyễn Thị Huyền Trang (2009): “Về hoạt động của Nguyễn ái Quốc ở Thái Lan và Lào.”, TC Lịch sử Đảng, Số 6, trang 20-22,28.

Chương II

(1)       Vũ Quang Hiển (2010): “Sáng tạo của Đảng trong quá trình xác định đường lối cách mạng giải phóng dân tộc (1930 – 1945).”, TC Lịch sử Đảng, Số 1, trang 3-11

(2)       Trịnh Nhu (2006): “Một số kinh nghiệm hoạt động của Đảng trong tiến trình đấu tranh giành chính quyền và kháng chiến, kiến quốc (1930 – 1954)”, TC Lịch sử Đảng, Số 2, trang 4-12.

(3)       Trịnh Nhu (2007): “Phương pháp xác định quyết sách của Đảng trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền và kháng chiến chống thực dân Pháp”, TC Lịch sử Đảng, Số 1, trang 8-11

(4)       Phạm Hồng Tung (2006): “Các cuộc vận động bầu cử và tranh cử trong cuộc đấu tranh vì các quyền dân sinh, dân chủ (1936 – 1939)”, Nghiên cứu lịch sử, Số 10, trang 39-46.

(5)       Lê Mậu Hãn (2006): “Bước nhảy vọt lịch sử mở đầu thể chế nhà nước pháp quyền của dân tộc, do dân tộc và vì dân tộc Việt Nam”, TC Lịch sử Đảng, Số 1, trang 3-8.

(6)       Đỗ Thanh Bình (2005): “Thời cơ của cuộc đấu tranh giành độc lập tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam và các nước Đông Nam á”, Nghiên cứu Đông Nam á, Số 5, trang 7-11.

(7)       Ngô Quốc Đông (2009): “Những nhân tố tác động tới hoạt động của đồng bào công giáo yêu nước trong cách mạng tháng tám năm 1945″, Nghiên cứu tôn giáo, Số 3, trang 15-24.

(8)       Vũ Dương Ninh (2005): “Đông Nam Á trong cuộc đấu tranh chống phát xít, giành độc lập (1940 – 1945)”, Nghiên cứu lịch sử, Số 6, trang 28-35.

(9)       Đinh Trần Dương (2005): “Tuyên ngôn độc lập năm 1945 – cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”, Lý luận chính trị, Số 9, trang 3-6, 30.

(10)    Phạm Xuân Linh (2008): “Ý nghĩa pháp lý của Bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945″, Dân chủ & Pháp luật, Số 9, trang 3-6.

(11)    Phan Văn Kỳ (2005): “Giá trị bất hủ của bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945″, Lý luận chính trị, Số 8, trang 20-24.

(12)    Nguyễn Quốc Hùng (2005): “Tuyên ngôn độc lập 1945 – Những khía cạnh quốc tế nổi bật”, Nghiên cứu lịch sử, Số 9, trang 3-8.

Chương III

(1)       Vũ Dương Ninh (2006): “Nhìn lại bối cảnh quốc tế năm 1945 – 1946″, TC Lịch sử Đảng, Số 2, trang 16-23.

(2)       Võ Văn Thắng (2009): “Về tính chất cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Việt Nam.”, TC Lịch sử Đảng, Số 12, trang 47-49,65.

(3)       Nguyễn Đình Lê (2011): “Bàn về vị trí của cuộc chiến đấu của quân và dân thủ đô (12/1946 – 2/1947) trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc “.

(4)       Võ Văn Sung (2008): “Những điều chưa nói rõ thêm trong lịch sử quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Cộng Hoà Pháp”, Nghiên cứu quốc tế, Số 75, trang 3-8.

(5)       Võ Nguyên Giáp (2005): “Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước – thắng lợi vĩ đại của bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam”, TC Cộng sản, Số 8, trang 3-13.

(6)       Đoàn Thị Hương (2009): “Sự ra đời của Trung ương cục Miền Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp”, TC Lịch sử Đảng, Số 8, trang 58-62.

(7)       Nguyễn Văn Nhật (2005): “Sự ra đời và phát triển của lực lượng an ninh miền Nam – Một tất yếu lịch sử của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”, Nghiên cứu lịch sử, Số 4, trang 3-10.

(8)       Trần Thị Thu Hương (2007): “Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”, TC khoa giáo, Số 3, trang 26-29.

(9)       Nguyễn Văn Quang (2005): “Đảng Cộng sản Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước qua “Giải phẫu một cuộc chiến tranh””, TC Cộng sản, Số 8, trang 76-78, 80.

(10)    Phạm Văn Trà (2005): “Chỉ đạo chiến lược sắc bén sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước”, TC Cộng sản, Số 8, trang 14-19, 29.

(11)    Phạm Xanh (2005): “Hoạt động của các phe phái đối lập trong chính quyền Sài Gòn và sự sụp đổ của chính quyền Ngô Đình Diệm tháng 11 năm 1963″, Nghiên cứu lịch sử, Số 4, trang 60-66.

(12)    Nguyễn Mạnh Hà (2005): “Sự thật về việc đầu hàng của chính phủ Dương Văn Minh ngày 30-4-1975″, TC Cộng sản, Số 8, trang 70-75.

(13)    Trần Quốc Long (2010): “Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong tiến trình cách mạng Việt Nam”, Tạp chí Lịch sử Đảng, Số 7, trang 21-25.

(14)    Phan Doãn Nam (2005): “Mặt trận ngoại giao trong cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc”, TC Cộng sản, Số 8, trang 30-34, 39.

(15)    Khắc Huỳnh (2005): “Ngoại giao Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)”, Nghiên cứu lịch sử, Số 4, trang 11-25.

(16)    Nguyễn Phúc Luân (2005): “Nhìn lại thành tựu và nhân tố thắng lợi của mặt trận ngoại giao trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975″, Nghiên cứu quốc tế, Số 1, trang 3-16.

(17)    Phùng Thị Hiển (2004): “Những thành công nổi bật của công tác tư tưởng trong kháng chiến chống Mỹ”, TC Lịch sử Đảng, Số 8, trang 40-43, 31

(18)    Chu Đình Lộc (2009): “Quá trình hình thành lực lượng vũ trang và căn cứ kháng chiến ở cực Nam trung bộ (1954 -1960).”, TC Lịch sử Đảng, Số 11, trang 8-13.

(19)    Ngô Văn Minh (2010): “Quyết định của Đảng về kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”, Sinh hoạt lý luận, Số 2, trang 7-9,31.

(20)    Vũ Quang Hiển (2005): “Sự chỉ đạo của Bộ chính trị trong giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ”, TC Lịch sử Đảng, Số 3, trang 5-8, 43.

(21)    Nguyễn Trọng Phúc (2005): “Sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”, TC Lịch sử Đảng, Số 4, trang 20-24.

(22)    Nguyễn Xuân Thông (2008): “Sự kiện lịch sử đánh dấu bước ngoặt lớn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta”, TC Cộng sản, Số 784, trang 78-81.

(23)    Đoàn Kim Dung (2009): “Thực hiện chức năng nhà nước trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa trong lịch sử Việt Nam”, TC Khoa học chính trị, Số 6, trang 70-76

(24)    Nguyễn Bình (2005): “Vai trò của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”, TC Lịch sử Đảng, Số 12, trang 4-14.

(25)    Phạm Thế Duyệt (2005): “Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam – 75 năm xây dựng và phát triển”, TC Cộng sản, Số 22, trang 3-8.

(26)    Vũ Đình Hòe (2005): “Tầm vóc và ý nghĩa lịch sử của đại thắng mùa Xuân năm 1975 trong cách mạng Việt Nam”, TC Lịch sử Đảng, Số 4, trang 17-19.

Chương IV

(1)       Đặng Hữu (2004 ): “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải đi đôi với bảo vệ môi trường, thực hiện phát triển bền vững”, Thông tin khoa học xã hội, Số 4, trang 21-24

(2)       Đỗ Văn Thông (2007 ): “Vấn đề môi trường và sức khoẻ cộng đồng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Lý luận chính trị Số 2, trang 77-80

(3)       Đặng Hữu (2008 ): “Đội ngũ trí thức trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức”, Lý luận chính trị, Số 7, trang 18-23.

(4)       Trần Quỵ (2008 ): “Vai trò của trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế “, TC Hoạt động khoa học, Số 5, trang 12-13

(5)       Bùi Thị Kim Hậu (2010 ): “Vai trò của đội ngũ trí thức trong quá trình trí thức hoá giai cấp công nhân Việt Nam”, Lý luận chính trị, Số 9, trang 72-77.

(6)       Lê Thanh Bình (2009 ): “Công nghiệp hóa ở Hàn Quốc và Đài Loan “, Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới Số 7, trang 40-50

(7)       Lê Thị Quế (2008 ): “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa – những bài học từ Vĩnh Phúc”, Nghiên cứu kinh tế, Số 10, trang 61-71

(8)       Nguyễn Đình Hòa (2004 ): “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay: khía cạnh môi trường sống”, Triết học, Số 8, trang 12-17.

(9)       Nguyễn Quốc Cường (2008 ): “Kiên trì đường lối đổi mới của Đảng tiếp tục thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, xây dựng giai cấp nông dân thời kỳ công nghiệp hoá – hiện đại hoá”, TC Nông thôn mới, Số 232, trang 5-7.

(10)    Trần Anh Phương (2008 ): “Nghị quyết Hội nghị trung ương 7 (Khoá X) bước phát triển đường lối của Đảng về nông nghiệp, nông dân và nông thôn”, TC Lịch sử Đảng, Số 11, trang 59-64

(11)    Đặng Kim Oanh (2011 ): “Thành tựu phát triển nông nghiệp, nông thôn qua 25 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng (1986-2010)”, Tạp chí Lịch sử Đảng, Số 1, trang 77-82.

(12)    Đỗ Kim Chung (2010 ): “Vấn đề nông dân, nông nghiệp, nông thôn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay: quan điểm và những định hướng chính sách”, Nghiên cứu kinh tế, Số 1, trang 52-58.

(13)    Nguyễn Hữu Mai (2004 ): “Một vài suy nghĩ về vấn đề nông dân, nông thôn trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, TC Nông thôn mới, Số 132, trang 8-9, 11.

(14)    Nguyễn Minh Phong (2008 ): “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn – yêu cầu khách quan trong sự phát triển của các nền kinh tế đi sau”, Những vấn đề kinh tế & chính trị thế giới, Số 6, trang 26-34.

(15)    Nguyễn Văn Chỉnh (2006 ): “Xây dựng và bồi dưỡng nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay”, TC Khoa học chính trị Số 1, trang 3-8, 21

(16)    Nguyễn Trọng Chuẩn (2007 ): “Để giai cấp công nhân xứng đáng là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước “, Triết học Số 7, trang 3-8.

(17)    Hồ Đức Việt (2010 ): “Đổi mới công tác tổ chức, cán bộ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Lý luận chính trị, Số 2, trang 17-27.

(18)    Nguyễn Thị Hồng Vân (2005 ): “Giáo dục với phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, TC Phát triển giáo dục, Số 4, trang 7-9.

(19)    Nguyễn Đình Hòa (2004 ): “Mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Triết học, Số 1, trang 14-19.

(20)    Trần Minh Phương (2007 ): “Một số vấn đề về phát triển công nghiệp trong chiến lược công nghiệp hóa ở Việt Nam hiện nay”, Thanh tra Tài chính, Số 57, trang 17-18

(21)    Than Phương (2009 ): “Nâng cao chất lượng dân số để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế”, Thông tin Đối ngoại Số 7, trang 19-20

(22)    Hoàng Ngọc Hà (2007 ): “Phát triển các nguốn lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức nhằm phát triển bền vững ở nước ta”, TC Kinh tế & phát triển, Số 120, trang 3-5.

(23)    Vũ Đăng Hiến (2005 ): “Phát triển kinh tế tri thức trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước”, Tổ chức nhà nước Số 2, trang 38-40.

(24)    Lê Ngọc Anh (2006 ): “Quan điểm về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức bước phát triển mới trong đường lối tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Đảng ta”, Triết học, Số 12, trang 3-8.

(25)    Nguyễn Thị Mai Hoa (2010 ): “Tài nguyên chiến lược và con đường công nghiệp hóa rút ngắn ở Việt Nam”, Lý luận chính trị Số 1, trang 65-70.

(26)    Đinh Ngọc Giang (2008 ): “Thu hút và sử dụng trí thức phục vụ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Lý luận chính trị, Số 7, trang 24-28.

(27)    Chu Văn Cấp (2006 ): “Tìm hiểu vấn đề “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển nền kinh tế tri thức””, TC Khoa học chính trị Số 4, trang 3-10, 24.

(28)    Đoàn Công Mẫn (2008 ): “Vai trò của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển lực lượng sản xuất trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Sinh hoạt lý luận Số 2, trang 40-43.

(29)    Phùng Văn Thiết (2005 ): “Bản chất của thông tin và kinh tế tri thức”, Triết học, Số 1, trang 57-61

(30)    Vũ Đăng Hiến (2006 ): “Kinh tế tri thức – nền kinh tế mới”, TC Nông thôn mới, Số 179, trang 6-7, 11.

(31)    Đức Linh (2008 ): “Kinh tế tri thức trong nền kinh tế toàn cầu”, TC Thông tin & Phát triển Số 5, trang 6-7.

(32)    Cao Quang xứng (2007 ): “Kinh tế tri thức với phát triển lực lượng sản xuất mới”, Lý luận chính trị & truyền thông, Số 6, trang 29-33.

(33)    Nguyễn Trần Quế (2005 ): “Nền kinh tế tri thức. Khái niệm, tiêu chí phản ánh và nhận dạng phát triển ở nước ta”, Thông tin Khoa học thống kê, Số 2, trang 10-15, 21

(34)    Rohland K (2004 ): Phát triển bền vững dựa trên tri thức – xu thế toàn cầu hoá thế kỷ 21, Paper presented at the Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Phát triển bền vững dựa trên tri thức.

(35)    Nguyễn Quang A (2004 ): “Phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam”, Tia sáng, Số 10, trang 44-47.

(36)    Hà Thị Hằng (2010 ): “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức”, Sinh hoạt lý luận Số 3, trang 42-44.

(37)    Nguyễn thị Lan Hương (2006 ): “Tác động của cuộc Cách mạng trong công nghệ thông tin đến lực lượng sản xuất – Nhìn từ góc độ triết học”, Triết học Số 9, trang 46-52

(38)    Nguyễn Quang (2010 ): “Thực trạng phát triển kinh tế tri thức ở nước ta sau 20 năm đổi mới”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, Số 2, trang 21-32.

(39)    Trần Cao Sơn (2009 ): “Tri thức khoa học – Vốn và hàng hoá quý hiếm trong thị trường kinh tế tri thức”, Triết học, Số 12, trang 36-41.

(40)    Bùi Tất Thắng (2010 ): “Vấn đề phát triển kinh tế trí thức ở Việt Nam hiện nay”, Lý luận chính trị, Số 3, trang 26-31.

(41)    Phạm Văn Chung (2010 ): “Về những đặc trưng cơ bản của tri thức “, Triết học, Số 9, trang 30-36.

(42)    Lương Minh Cừ (2007 ): “Việt Nam và vấn đề xây dựng nền kinh tế tri thức”, TC Khoa học xã hội, Số 8, trang 12-15.

(43)    Hoàng Tuỵ (2008): “Những bài học về chính sách với trí thức”, Tia sáng, Số 7, trang 30-33.

(44)    Lê Thành ý (2006): “Phát triển dựa vào trí thức và công nghệ cao – hình mẫu ấn Độ”, TC Thông tin & Phát triển, Số 3, trang 33-35.

(45)    Trần Phương Hoa (2009): “Vài nét về vai trò của trí thức – quan điểm từ Châu Âu “, Nghiên cứu châu Âu, Số 6, trang 64-73.

(46)    Văn Tạo (2005): “Phát huy sức mạnh của liên minh công nhân, nông dân, trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Nghiên cứu lịch sử, Số 10, trang 3-6.

(47)    Trần Ngọc Hiên (2008): “Mục tiêu chiến lược của Đảng trong giai đoạn mới và tính cấp bách xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh”, TC Cộng sản, Số 789, trang 71-74.

(48)    Đặng Mộng Lân (2006): “Đánh giá định lượng tỷ lệ lao động trí thức trong nền kinh tế Việt Nam”, TC Hoạt động khoa học, Số 6, trang 37-39.

(49)    Trần Đình Thiên (2007 ): “Chiến lược Biển và tầm nhìn mới về CNH, HĐH”, Tia sáng Số 11, trang 44-46

(50)    Nguyễn Nhâm (2009): “Các nước lớn điều chỉnh chiến lược biển – những quan tâm từ góc độ kinh tế biển của Việt Nam”, Quản lý nhà nước, Số 3, trang 7-10.

(51)    Bùi Tất Thắng (2008 ): “Chiến lược kinh tế biển một số kinh nghiệm thế giới”, Kinh tế châu á – Thái Bình Dương, Số 218 trang 18-21.

(52)    Lê Nguyễn (2007 ): “Chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam”, TC Thương mại, Số 13 trang 4-5.

(53)    Tạ Quang Ngọc (2007 ): “Để Việt Nam sớm trở thành một quốc gia mạnh về biển và giàu lên từ biển”, TC Cộng sản, Số 777, trang 33-38.

(54)    Nguyễn Đức Tới (2009 ): “Gắn phát triển kinh tế biển với tăng cường xây dựng quốc phòng – an ninh”, Thông tin Khoa học và Công nghệ (Hà Tĩnh), Số 3, trang 15-16

(55)    Phạm Văn (2009 ): “Hàng lang kinh tế Đông – Tây: Cú hích lớn đối với kinh tế biển Việt Nam”, Hàng hải Việt Nam, Số 9, trang 17-18

(56)    Vũ Tuyết Loan (2009 ): “Hợp tác ASEAN trong phát triển kinh tế biển”, Hàng hải Việt Nam Số 5, trang 24,27.

(57)    Phí Thị Thu Huyền (2008 ): “Phát huy vai trò kinh tế biển”, TC Tài chính doanh nghiệp, Số 9, trang 26-27.

(58)    Phan Ngọc (2008 ): “Phát triển đất nước trên thế mạnh của biển”, TC Thông tin & Phát triển, Số 1, trang 13-14

(59)    Trần Đức Thạnh (2007 ): “Phát triển bền vững vùng biển Việt Nam”, TC Hoạt động khoa học, Số 3, trang 13-14, 18

(60)    Nguyễn Duy Tân (2010 ): “Phát triển kinh tế biển của Việt Nam: Thực trạng và triển vọng”, Thông tin Khoa học và Công nghệ Quảng Bình, Số 3, trang 8-11.

(61)    Nguyễn Tấn Trịnh (2006 ): Phát triển kinh tế biển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước Paper presented at the Báo cáo khoa học Hội thảo khoa học, công nghệ và kinh tế bỉên phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước – Liên hiệp các hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam.

(62)    Chu Đức Dũng (2010 ): “Phát triển kinh tế biển Việt Nam trong bối cảnh của Trung Quốc”, Tài nguyên và Môi trường, Số 9, trang 11-12,39.

(63)    Nguyễn Ngọc Thanh; Phạm Thị Thanh Bình (2010 ): “Phát triển kinh tế biển Việt Nam: Thực trạng và giải pháp”, TC Nghiên cứu Châu Phi & Trung Đông, Số 2 trang 42-48

(64)    Minh Hải (2009 ): “Phát triển ngành kinh tế biển Việt Nam vẫn còn nhiều thách thức”, Con số & Sự kiện Số 5, trang 16-17,21

(65)    Bùi Tất Thắng (2007 ): “Sự phát triển kinh tế biển và chiến lược biển của một số nước trên thế giới”, Kinh tế và dự báo Số 6 trang 43-46.

(66)    Đoàn Tất Thắng (2007 ): “Tầm nhìn mới trong “Chiến lược biển Việt Nam 2020″”, TC Thương mại, Số 24, trang 7-8.

(67)    Trần Minh Sanh (2006 ): “Tận dụng lợi thế so sánh để phát triển kinh tế biển “, TC Nhà quản lý, Số 34 trang 10-11.

(68)    Phạm Thị Thanh Bình (2010 ): “Trao đổi về phát triển kinh tế biển ở Việt Nam”, Tài nguyên và Môi trường, Số 16 trang 7-9,12.

(69)    Nguyễn Chu Hồi (2010 ): “Thay đổi bình diện kinh tế biển Việt Nam “, Tài nguyên và Môi trường, Số 17, trang 13-14.

(70)    Vũ Thị Nhài (2008 ): “Về phát triển kinh tế biển Việt Nam hiện nay”, TC Thương mại Số 11, trang 8-10.

(71)    Nguyễn Văn Dung (2009 ): “Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế biển với củng cố quốc phòng an ninh trên biển”, TC Quản lý kinh tế Số 29 trang 52-58.

Chương V

(1)       Nguyễn Cúc (2004): “20 năm đổi mới và sự hình thành thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta”, Lý luận chính trị, Số 10, trang 67-72.

(2)       Đỗ Trọng Bá (2008): “Bàn về định hướng XHCN trong nền kinh tế thị trường”, TC Cộng sản, Số 783, trang 57-61.

(3)       Hoàng Ngọc Hà (2005): “Các mô hình thể chế kinh tế thị trường và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, TC Cộng sản, Số 13, trang 26-30.

(4)       Trần Đình Thiên (2007): “Cơ sở lý luận và điều kiện thực hiện kinh tế thị trường định hưỡng XHCN”, TC Cộng sản, Số 779, trang 43-49.

(5)       Hoàng Xuân Nghĩa (2005): “Cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Những vấn đề kinh tế thế giới, Số 3, trang 9-21.

(6)       An Hưng (2009): “Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên: Bước đột phá hướng tới kinh tế thị trường.”, Nghiên cứu Đông Bắc á, Số 2, trang 5-8.

(7)       Vũ Quang Vinh (2008): “Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, TC Khoa học chính trị, Số 5, trang 29-34.

(8)       Trần Ngọc Hiên (2008): “Định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững”, Thông tin khoa học xã hội, Số 4, trang 3-8.

(9)       Nguyễn Quốc Việt (2008): “Góp phần cụ thể hoá định hướng XHCN kinh tế thị trường ở nước ta”, TC ngân hàng, Số 5, trang 46-49.

(10)    Trần Nguyễn Tuyên “Góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Quản lý nhà nước, Số 3, trang 2-6, 10.

(11)    Nguyễn Đình Kháng (2007): “Kinh tế tập thể trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Những vấn đề kinh tế & chính trị thế giới, Số 9, trang 50-54.

(12)    Trần Ngọc Hiên (2008): “Kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự nước ta”, TC Cộng sản, Số 787, trang 50-55.

(13)    Hà Đăng (2008): “Kinh tế thị trường qua các bước đổi mới tư duy”, Tuyên giáo, Số 3, trang 31-36.

(14)    Minh Ngọc (2010): “Kinh tế thị trường và sự phân hoá giàu nghèo”, Tạp chí Thuế nhà nước, Số 273, trang 28.

(15)    Nguyễn Văn Thường (2008): “Kinh tế thị trường Việt Nam – những góc nhìn tổng quát”, TC Kinh tế & phát triển, Số 134, trang 35-39.

(16)    Nguyễn Văn Hậu (2006): “Mô hình thể chế kinh tế thị trường của Liên bang Nga”, Kinh tế châu á – Thái Bình Dương, Số 26, trang 14-16.

(17)    Hồ Sĩ Quý (2007): “Một số vấn đề phương pháp luận nghiên cứu và phát triển văn hóa – con người – nguồn nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế (Về kết quả nghiên cứu của đề tài KH-CN cấp nhà nước KX.05.01) (Tiếp theo)”, Thông tin khoa học xã hội, Số 10, trang 13-22.

(18)    Vũ Thị Nhài (2008): “Một số vấn đề về quản lý kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Kinh tế và dự báo, Số 6, trang 8-10.

(19)    Nguyễn Văn Thưởng;  Hoàng Văn Hoa (2008): “Một số ý kiến về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, TC Kinh tế & phát triển, Số 131, trang 3-5.

(20)    Bùi Thanh Xuyên (2007): “Nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế thị trường”, TC Khoa học xã hội, Số 3, trang 3-6

(21)    Kim Sang Bong (2009): “Nền cộng hoà và kinh tế thị trường ở Hàn Quốc: Trách nhiệm xã hội đối với công chúng trước ảnh hưởng của kinh tế thị trường toàn cầu.”, Triết học, Số 7, trang 16-18.

(22)    Nguyễn Văn Mạnh (2008): “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong quan hệ với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xã hội dân sự.”, Nhà nước và pháp luật, Số 9, trang 3-5.

(23)    Nguyễn Xuân ớt (2008): “Nhận thức của Đảng cộng sản Việt Nam về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.”, TC Lịch sử Đảng, Số 11, trang 32-37.

(24)    Trần Văn Phòng (2009): “Những giải pháp hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.”, TC Lịch sử Đảng, Số 4, trang 40-43,39.

(25)    (2007): “Những kết quả chủ yếu của Chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KX01: “Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam””, Nghiên cứu kinh tế, Số 1, trang 75-77.

(26)    Nguyễn Đình Tấn (2007): “Phân tầng xã hội và phân hoá giàu nghèo trong quá trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế”, TC Khoa học xã hội, Số 4, trang 15-19,8.

(27)    Nguyễn Đình Tấn (2008): “Xu hướng biến đổi phân tầng xã hội ở Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế”, Xã hội học, Số 2, trang 3-13.

(28)    Hồ Văn Vĩnh (2004): “Quá trình chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Lý luận chính trị, Số 7, trang 44-50.

(29)    Nguyễn Văn Hậu (2009): “Tác động của gia nhập WTO đến hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam.”, Quản lý nhà nước, Số 4, trang 11-14,19.

(30)    Phạm Minh Hạc;  Phạm Thành Nghị (2007): “Thái độ của người dân đối với nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Nghiên cứu con người, Số 1, trang 19-37.

(31)    Đặng Xuân Hoan (2008): “Tiêu chí kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Quản lý nhà nước, Số 3, trang 7-10.

(32)    Đặng Văn Thắng (2005): “Trao đổi về nhận thức thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay”, TC Kinh tế & phát triển, Số 102, trang 28-31.

(33)    Trần Du Lịch (2008): “Ưu tiên hoàn thiện pháp luật phù hợp với chức năng quản lý nhà nước về kinh tế trong điều kiện vận hành của cơ chế kinh tế thị trường”, Nghiên cứu Lập pháp, Số 15, trang 43-45, 53.

(34)    Hồ Tấn Sáng (2010): “Vai trò của nhân tố lãnh đạo, quản lý trong quá trình xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Triết học, Số 6, trang 3-9.

(35)    Phạm Thị Lý (2008): “Vấn đề đình công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, TC Khoa học chính trị, Số 3, trang 34-39.

(36)    Phạm Anh Hùng (2007): “Đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong giai đoạn hiện nay”, TC Khoa học chính trị, Số 6, trang 21-27.

(37)    Trần Nguyễn Tuyên (2006): “Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin về sự tác động của chính trị đối với kinh tế trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta”, TC Lịch sử Đảng, Số 8, trang 34-38.

(38)    Trần Đình Thảo (2010): “Về mối quan hệ giữa ổn định chính trị và phát triển kinh tế ở Việt Nam”, Triết học, Số 3, trang 10-16.

Chương VI

(1)       Hồ Bá Thâm (2006 ): “Đổi mới và hoàn thiện cơ chế về mối quan hệ cơ bản trong hệ thống chính trị: Đảng lãnh đạo – Nhà nước quản lý – Mặt trận đoàn thể giám sát trên cơ sở phát huy quyền làm chủ của nhân dân”, Sinh hoạt lý luận, Số 1, trang 28-32

(2)       Lê Trọng Ân (2004): “Dân chủ và phát huy dân chủ của nhân dân trong sự nghiệp đổi mới”, Tạp chí Cộng sản, Số 24, trang 27-31.

(3)       Hoàng Chí Bảo (2005): “Hệ thống chính trị và sự ổn định chính trị trong những năm đổi mới – thành quả và kinh nghiệm”, Lý luận chính trị, Số 3, trang 16-20.

(4)       Nguyễn Viết Thảo (2009 ): “Mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới hệ thống chính trị”, Tạp chí Lý luận chính trị, Số 6, trang 26-31

(5)       Nguyễn Hồng Lương (2005): “Quan niệm Mác-xít về hệ thống chính trị và sự vận dụng của Đảng ta”, TC Khoa học chính trị, Số 3, trang 31-36.

(6)       Nguyễn Thị Doan (2004): “Tăng cường công tác giám sát trong Đảng”, TC Cộng sản, Số 22, trang 3-7.

(7)       Phan Đại Doãn (2006): “Thiết chế truyền thống làng Việt trong hệ thống chính trị ngày nay”, Nghiên cứu lịch sử, Số 11, trang 3-9.

(8)       Phạm Đức Vinh (2009 ): “Về đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị”, Xây dựng Đảng, Số 4, trang 22-24

(9)       Đàm Anh Tuấn (2005): “Quan hệ dân chủ và kỷ luật trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay”, TC Khoa học xã hội, Số 5, trang 3-8.

(10)    Nguyễn Văn An (2009 ): “Bàn về phân công quyền lực nhà nước”, Kinh tế châu á – Thái Bình Dương, Số 290, trang 12-14.

(11)    Nguyễn Văn An (2008 ): “Dân làm chủ”, Xây dựng Đảng, Số 4, trang 40-42

(12)    Phạm Ngọc Quang (2010 ): “Một số đề xuất rút ra từ đổi mới nhận thức về vai trò của “Dân” trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ””, Triết học, Số 9, trang 37-42.

(13)    Nguyễn Ngọc Hà (2010 ): “Về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước trong hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay”, Triết học, Số 2, trang 51-57

(14)    Nguyễn Thọ Ánh (2005): “Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong hệ thống chính trị Việt Nam”, TC Khoa học chính trị, Số 2, trang 28-32, 37.

(15)    Trần Ngọc Đường (2011): “Xem xét cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước bên trong bộ máy Nhà nước ta”.

(16)    Bùi Đình Bôn (2010 ): “Một số quan điểm cơ bản cần nắm vững trong đổi mới mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, Triết học, Số 3, trang 3-9.

(17)    Đinh Xuân Dũng (2010 ): “Tiếp tục thể chế hoá, hiện thực hoá cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, Tuyên giáo, Số 2, trang 44-47.

(18)    Mạch Quang Thắng (2009 ): “Về cơ chế đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, Lý luận chính trị Số 5, trang 74-78.

(19)    Đào Trí úc (2010 ): “Cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực theo hiến pháp năm 1992 của nước ta”, Khoa học pháp lý, Số 4, trang 3-8.

(20)    Đào Trí úc (2010 ): “Hiến pháp và cơ chế quyền lực nhà nước ở Việt Nam “, Nhà nước và pháp luật Số 9, trang 3-10.

(21)    Đào Trí úc (2005 ): “Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam: Những thành tựu chủ yếu của 60 năm xây dựng và phát triển”, Thông tin khoa học xã hội, Số 12, trang 3-11.

(22)    Nguyễn Mạnh Bình (2009 ): “Cơ chế thực thi, giám sát quyền lực nhà nước”, Nghiên cứu Lập pháp, Số 12, trang 12-15.

(23)    Nguyễn Thị Hoài Phương (2011): “Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực của nhánh quyền hành pháp trong xây dựng nhà nước pháp quyền “, Nghiên cứu lập pháp Số 189.

(24)    Nguyễn Thị Hồi (2003 ): “Kinh nghiệm của một số nước về kiểm soát quyền lực nhà nước”, Nhà nước và pháp luật, Số 6, trang 23-30.

(25)    Nguyễn Thế Kiệt (2006 ): “Mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”, Triết học, Số 6, trang 3-9.

(26)    Nguyễn Minh Đoan (2007 ): “Nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”, Nhà nước và pháp luật Số 5, trang 3-8.

(27)    Nguyễn Văn Thảo (2001 ): “Nhân tố nhà nước pháp quyền, thống nhất quyền lực trong nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sau Cách mạng tháng tám “, TC Cộng sản Số 17, trang 32-35

(28)    Phạm Đức Thăng (2008): “Quan hệ giữa nhà nước và Đảng ở nước ta – nét phổ biến và nét đặc thù”, TC Khoa học chính trị, Số 4, trang 23-28.

(29)    Phạm Văn Tỉnh (2003 ): “Quan niệm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhà nước từ góc nhìn của hoạt động thi hành án hình sự”, Nhà nước và pháp luật Số 1, trang 16-22.

(30)    Nguyễn Minh Đoan (2007 ): “Quyền lực nhà nước là thống nhất và sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, trong việc thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam”, TC Luật học Số 2, trang 27-33.

(31)    Trần Ngọc Đường (2009 ): “Tìm hiểu nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp””, Nghiên cứu Lập pháp Số 2, trang 39-43.

(32)    Phạm Thế Lực (2011 ): “Vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước”, Nhà nước và Pháp luật, Số 1 trang 23-28,36

(33)    Trần Kim Cúc (2005): “Những luận điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen về phương thức lãnh đạo của Đảng cầm quyền đối với nhà nước”, TC Lịch sử Đảng, Số 1, trang 7-9

(34)    Nguyễn Thị Doan (2007): “Một số vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo”, TC Cộng sản, Số 777, trang 29-32.

(35)    Nguyễn Phước Thọ (2009): “Phương thức lãnh đạo của Đảng với việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam”, Nghiên cứu Lập pháp, Số 2, trang 60-66.

(36)    Phạm Hữu Tiến (2005): “Sự phát triển nhận thức của Đảng về phương thức lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội”, TC Lịch sử Đảng, Số 3, trang 29-34.

(37)    Nguyễn Văn Huyên (2008): “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị”, Lý luận chính trị, Số 4, trang 38-41, 32.

(38)    Lê Quang (2009): “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của đảng đối với công tác cán bộ”, Xây dựng Đảng, Số 7, trang 6-8.

(39)    Phạm Huy An (2006): “Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước”, Lý luận chính trị, Số 1, trang 23-25, 42.

(40)    Nguyễn Hữu Đổng; Bùi Khắc Hằng (2004): “Tìm hiểu phương thức lãnh đạo của Đảng trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh”, Lý luận chính trị, Số 7, trang 7-9, 15.

(41)    Trương Minh Dục (2009): “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới phương thức lãnh đạo của đảng cầm quyền trơng tác phẩm “sửa đổi lối làm việc””, TC Khoa học chính trị, Số 2, trang 3-7.

(42)    Nông Đức Mạnh (2009): “Xây dựng đội ngũ cán bộ đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với tư duy mới, cách làm mới”, Xây dựng Đảng, Số 3, trang 2-6.

Chương VII

(1)       Nguyễn ánh Hồng (2011 ): “Đường lối văn hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội”, Lý luận chính trị và truyền thông, Số 1, trang 12-20

(2)       Lê Võ Thanh Lâm (2010 ): “Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, TC Khoa học chính trị, Số 1, trang 42-46.

(3)       Nguyễn Danh Tiên (2006): “Đảng lãnh đạo xây dựng, phát triển văn hóa thời kỳ đổi mới – Một số thành tựu và hạn chế”, TC Lịch sử Đảng, Số 12, trang 43-46.

(4)       Trần Văn Bính (2010): “Đảng ta và sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới”, Tuyên giáo, Số 1, trang 51-55.

(5)       Nguyễn Văn Huyên (2006): “Để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội”, TC Cộng sản, Số 2, trang 88-92.

(6)       Đỗ Đình Hãng (2005): “Đổi mới tư duy lý luận của Đảng trong lĩnh vực văn hóa”, TC Lịch sử Đảng, Số 11, trang 22-24.

(7)       Vũ Anh Tú (2005): “Giá trị văn hóa Việt Nam qua so sánh với một số nước Đông Nam á”, Nghiên cứu Đông Nam á, Số 5, trang 63-67.

(8)       Nguyễn Đình Tường (2006): “Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống ở Việt Nam trước tác động của toàn cầu hóa”, Triết học, Số 5, trang 28-32.

(9)       Gilbert Hottois (2008): “Khoa học công nghệ và sự đối thoại giữa các nền văn hóa”, Triết học, Số 3, trang 64-68.

(10)    Phạm Minh Hạc (2007): “Phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực một dòng chảy”, Nghiên cứu con người, Số 6, trang 3-14 Phạm Minh Hạc (2007 ): “Phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Tư tưởng Văn hoá, Số 4, trang 24-27

(11)    Hải Vân (2008 ): “Tiềm năng văn hoá và con người – yếu tố hàng đầu trong thời hội nhập”, Tia sáng, Số 1, trang 43-45.

(12)    Hồ Sĩ Quý (2008): “Về phương pháp luận nghiên cứu văn hóa và con người”, Triết học, Số 8, trang 28-36.

(13)    Nguyễn Ngọc Toàn (2007): “Về tính nhân văn trong văn hóa Việt Nam”, Triết học, Số 6, trang 59-64.

(14)    Thành Duy (2009): “Toàn cầu hóa, chủ nghĩa dân tộc và tiến trình phát triển văn hóa ở Việt Nam”, Tuyên giáo, Số 1, trang 31-36

(15)    Hoàng Ngọc Hiến (2006): “Sức mạnh văn hóa và sự phát triển của văn minh”, Nghiên cứu con người, Số 4, trang 7-23.

(16)    Nguyễn Đăng Tiến (2007 ): “Khu học xá trung ương: Tầm nhìn xa trong đường lối giáo dục của Đảng”, TC Khoa học giáo dục Số 4, trang 45.

(17)    Phạm Bình Minh (2009 ): “Thành tựu to lớn trong việc thực hiện đường lối của đảng về bảo đảm và phát triển quyền con người”, TC Cộng sản, Số 801 trang 8-14

(18)    Đinh Xuân Lý (2009): “Chủ trương của Đảng về giải quyết các vấn đề xã hội trong thời kỳ đổi mới”, TC Lịch sử Đảng, Số 7, trang 21-26.

(19)    Nguyễn Hữu Thức (2007): “Đảng lãnh đạo giải quyết các vấn đề xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển đất nước”, TC khoa giáo, Số 10, trang 25-28.

(20)    Mai Ngọc Anh (2006): “Đói nghèo và tách biệt xã hội ở Việt Nam hiện nay”, Kinh tế và dự báo, Số 3, trang 31-32.

(21)    Ngô Xuân Bình (2006): “Giải quyết các vấn đề xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế – kinh nghiệm Hàn Quốc và gợi ý cho Việt Nam”, Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc á, Số 4, trang 5-12.

(22)    Lưu Đạt Thuyết (2004): “Giải quyết một số vấn đề xã hội trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta”, Lý luận chính trị, Số 11, trang 45-51.

(23)    Nguyễn Tài Đông (2010): “Một số vấn đề xã hội và dân sinh ở Việt Nam từ đổi mới đến nay”, Triết học, Số 4, trang 33-41.

(24)    Nguyễn Văn Nam (2010): “Những vấn đề xã hội bức xúc nảy sinh trong bước chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay “, Sinh hoạt lý luận, Số 1, trang 23-26

(25)    Hoàng Xuân Hoà;  Trịnh Thị Hồng Hà (2004): “Dân số và vấn đề đói nghèo ở Việt Nam”, Dân số và phát triển, Số 8, trang 5-9.

(26)    Vũ Quốc Huy (2004): “Tăng trưởng, đói nghèo và bất bình đẳng ở Việt Nam”, TC Lao động và xã hội, Số 240, trang 30-32.

(27)    Trần Thành (2006): “Vai trò của nhà nước trong việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở nước ta hiện nay”, Triết học, Số 2, trang 3-9.

(28)    Nguyễn Minh Hoàn (2008): “Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về thực hiện công bằng xã hội”, TC Lịch sử Đảng, Số 3, trang 51-55.

(29)    Nguyễn Duy Quý (2008 ): “Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Triết học, Số 3, trang 12-17.

(30)    Phạm Xuân Nam (2008 ): “Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Triết học, Số 2, trang 27-34.

(31)    Nguyễn Hữu Sở (2010 ): “Công bằng xã hội trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.”, Quản lý nhà nước, Số 1, trang 21-24,55

(32)    Nguyễn Tấn Hưng (2009 ): “Công bằng xã hội và thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay”, Phát triển nhân lực, Số 3, trang 46-50.

(33)    Vũ Anh Tuấn (2007 ): “Công bằng xã hội và vấn đề định lượng nó trong pháp luật”, Sinh hoạt lý luận, Số 5, trang 58-61.

(34)    Nguyễn Hải Hữu (2007 ): “Công bằng xã hội với chính sách bảo trợ xã hội trong mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế”, Xã hội học, Số 1, trang 25-32

(35)    Nguyễn Hữu Dũng (2007 ): “Đảm bảo hài hòa quan hệ giữa công bằng xã hội và tăng trưởng kinh tế ở nước ta”, TC Lao động và xã hội, Số 322, trang 23-24,27.

(36)    Hoàng Đức Thân (2010 ): “Gắn kết tăng trưởng kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta”, TC Cộng sản, Số 809 trang 27-32.

(37)    Lương Văn Kế (2009 ): “Giải pháp cho quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội: kinh nghiệm một số nước Phươn g Tây “, Nghiên cứu châu Âu, Số 11, trang 47-57.

(38)    Võ Trọng Đường (2007 ): “Kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở nông thôn một số nước châu á và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam”, TC Khoa học chính trị Số 3, trang 32-35, 70

(39)    Nguyễn Thị Kim Ngân (2010): “Kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ở nước ta giai đoạn 2011-2020 “, Lý luận chính trị Số 10, trang 29-36.

(40)    Phạm Xuân Nam (2010): “Kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam”, Thông tin Khoa học Xã hội, Số 1, trang 3-9.

(41)    Nguyễn Quốc Luật (2008 ): “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội”, TC Lao động và xã hội Số 331, trang 26-27.

(42)    Trần Văn Phòng (2006 ): “Một số giải pháp nhằm kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở nước ta hiện nay”, TC Khoa học chính trị Số 2, trang 23-27

(43)    Tô Huy Rứa (2007 ): “Phát triển hài hoà giữa kinh tế và xã hội ở Việt Nam”, TC Cộng sản, Số 779, trang 9-20.

(44)    Võ Thị Hoa (2009): “Phát triển kinh tế vĩ mô, nhân tố quan trọng hàng đầu để thực hiện công bằng xã hội ở nước ta hiện nay.”, TC Lịch sử Đảng, Số 10, trang 52-55.64.

(45)    Trịnh Duy Luân (2008): “Quá trình bổ sung nhận thức về công bằng xã hội và thực hiện công bằng xã hội ở nước ta hiện nay”, Xã hội học, Số 4, trang 3-11

(46)    Nguyễn Xuân Phong (2008): “Quá trình nhận thức của đảng về công bằng xã hội”, Lý luận chính trị, Số 4, trang 46-50.

(47)    Nguyễn Minh Hòan (2007 ): “Quan điểm của chủ nghĩa Mác về công bằng xã hội với tư cách thước đo trình độ giải phóng con người”, Triết học, Số 5, trang 10-14

(48)    Nguyễn Thị Nga (2006 ): “Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nước ta hiện nay: Những quan điểm cơ bản của Đảng”, Triết học, Số 9, trang 3-8.

(49)    Nguyễn Minh Thuyết (2009 ): “Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta hiện nay”, Lý luận chính trị Số 12, trang 22-27.

(50)    Nguyễn Tấn Hùng; Lê Hữu ái (2008 ): “Thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay mâu thuẫn và phương pháp giải quyết”, Triết học, Số 4, trang 24-29.

(51)    Trần Thành (2006 ): “Vai trò của nhà nước trong việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở nước ta hiện nay”, Triết học Số 2, trang 3-9

(52)    Nguyễn Minh Hoà (2006 ): “Vị trí của công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội “, Triết học, Số 1, trang 36-42

(53)    Nguyễn Duy Quý (2008): “Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Lý luận chính trị, Số 11, trang 45-50.

(54)    Nguyễn Hữu Sở (2010): “Công bằng xã hội trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.”, Quản lý nhà nước, Số 1, trang 21-24,55.

(55)    Phạm Thị Ngọc Trầm (2009): “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội – Một công cụ quan trọng nhằm thực hiện công bằng xã hội ở nước ta.”, Triết học, Số 12, trang 10-18.

(56)    Đỗ Văn Quân (2008 ): “Bảo đảm an sinh xã hội cho nông dân nước ta hiện nay”, Lý luận chính trị Số 9, trang 26-29, 69

(57)    Nguyễn Tấn Dũng (2010 ): “Bảo đảm ngày càng tốt hơn an sinh xã hội & phúc lợi xã hội”, Kinh tế Châu á – Thái Bình Dương, Số 310 trang 6-11.

(58)    Đỗ Ngọc Huỳnh (2010 ): “Cải cách hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam”, Tạp chí Tài chính, Số 4, trang 33-36

(59)    Nguyễn Thị Lan Hương (2009 ): “Chiến lược an sinh xã hội Việt Nam thời kỳ 2011 – 2020 “, TC Lao động và xã hội, Số 359 trang 23-24,27

(60)    Nguyễn Hữu Dũng (2008 ): “Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện chính sách an sinh xã hội ở nước ta trong quá trình hội nhập”, TC Lao động và xã hội Số 332 trang 14-16.

(61)    Nguyễn Hữu Dũng (2008 ): “Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và thực hiện chính sách an sinh xã hội ở nước ta”, TC Cộng sản Số 788 trang 46-50.

(62)    Nguyễn Văn Tuân (2008 ): “Người cao tuổi và vấn đề an sinh xã hội ở Việt Nam – thực trạng và kiến nghị”, Khu công nghiệp Việt Nam, Số 95, trang 32.

(63)    Mai Ngọc Anh (2008 ): “Phát triển hệ thống an sinh xã hội đối với nông dân Việt Nam hiện nay”, Nghiên cứu kinh tế, Số 9, trang 21-33.

(64)    Tôn Thiện Chiếu (2006 ): “Vấn đề an sinh xã hội đối với công nhân, lao động”, Xã hội học Số 4, trang 39-44.

(65)    Lê Bạch Hồng (2010 ): “Vai trò của chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với an sinh xã hội đất nước”, TC Cộng sản Số 808 trang 56-60

(66)    Bùi Đức Hiển (2010 ): “Những vấn đề cơ bản của hệ thống hoá về an sinh xã hội ở nước ta hiện nay”, TC Luật học, Số 3, trang 18-26

(67)    Lê thị Hoài Thu (2007): “Pháp luật an sinh xã hội – Một số nghiên cứu so sánh và kiến nghị “, Nhà nước và pháp luật, Số 11, trang 58-65

(68)    Hoàng Chí Bảo (2008 ): “Vấn đề an sinh xã hội ở Việt Nam”, Lý luận chính trị, Số 2, trang 38-43.

(69)    Mai Huy Bích (2006 ): “An sinh xã hội ở Châu Âu và Mỹ”, Xã hội học Số 1, trang 96-103.

(70)    Nguyễn Anh Hùng (2007 ): “Tìm hiểu về chính sách an sinh xã hội ở Mỹ “, Châu Mỹ ngày nay, Số 7, trang 3-8.

(71)    Dương Chí Thiện (2006 ): “Tìm hiểu hệ thống an sinh xã hội Trung Quốc”, Xã hội học Số 1, trang 113-122

(72)    Đinh Công Tuấn (2008 ): “Hệ thống an sinh xã hội theo mô hình “Dân chủ xã hội” ở Thuỵ Điển – thực trạng và những vấn đề”, Nghiên cứu châu Âu, Số 4, trang 40-47.

(73)    Đinh Công Tuấn (2010 ): “Bài học kinh nghiệm rút ra từ mô hình an sinh xã hội của EU và những kiến nghị cho Việt Nam hiện nay “, Xã hội học, Số 2, trang 8-15

Chương VIII

(1)       Vũ Dương Ninh (2007 ): “ASEAN – Những cột mốc trên tiến trình phát triển”, TC Cộng sản, Số 778, trang 106-111

(2)       Vũ Dương Ninh (2009 ): “Nhân tố quốc tế trong sự phát triển xã hội và quản lý xã hội”, Nghiên cứu châu Âu, Số 9, trang 3-6

(3)       Vũ Dương Ninh (2009 ): “Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập và đoàn kết quốc tế “, TC Cộng sản, Số 803, trang 25-30.

(4)       Vũ Dương Ninh (2009 ): “Việt Nam mở cửa và hội nhập nhìn từ kinh nghiệm thế kỷ XX “, Nghiên cứu lịch sử, Số 6, trang 3-9.

(5)       Vũ Dương Ninh (2005): “Quan hệ đối ngoại Việt Nam trên chặng đường 60 năm (1945 – 2005)”, TC Lịch sử Đảng, Số 8, trang 14-21.

(6)       Vũ Dương Ninh (2010 ): “Trao đổi thêm về vấn đề nắm thời cơ trong hoạt động đối ngoại “, Nghiên cứu Quốc tế Số 2, trang 111-116.

(7)       Uông Minh Long (2009): “Các nước láng giềng trong chính sách đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới “, Nghiên cứu Đông Nam á, Số 5, trang 61-65.

(8)       Phan Trọng Phức (2004): “Cơ hội, thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế và định hướng phát triển kinh tế đối ngoại Việt Nam”, TC Kinh tế và phát triển, Số 88, trang 44-46.

(9)       Phạm Gia Khiêm (2010 ): “Công tác về người Việt Nam ở nước ngoài: một trọng tâm đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam”, Thông tin đối ngoại, Số 1, trang 4-6.

(10)    Phạm Gia Khiêm (2008): “Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả cong tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới”, Thông tin Đối ngoại, Số 5, trang 5-8.

(11)    Phạm Gia Khiêm (2009): “Tiếp tục triển khai thành công đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng lần thứ X.”, TC Lịch sử Đảng, Số 1, trang 5-9.

(12)    Vũ Quang Hiển (2008 ): “Cuộc đấu trí, đấu lực giữa Việt Nam và Mỹ trước ngày tới bàn đàm phán tại hội nghị Paris”, Thông tin Đối ngoại, Số 6, trang 20-24.

(13)    Vũ Quang Hiển (2010 ): “Sự chỉ đạo của Đảng trong đấu tranh thi hành hiệp định Pari và giải phóng hoàng toàn miền Nam (1973 – 1975)”, Tạp chí Lịch sử Đảng, Số 7, trang 26-35.

(14)    Vũ Quang Hiển (2009 ): “Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà – Thành quả của một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình”, Quản lý nhà nước, Số 8, trang 2-6.

(15)    Trịnh Nhu (2011 ): “Đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào “, Tạp chí Lịch sử Đảng Số 1, trang 49-58

(16)    Phạm Gia Khiêm (2009): “Đẩy mạnh công tác ngoại giao văn hoá nhằm góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng”, Thông tin Đối ngoại, Số 5, trang 3-5.

(17)    Nguyễn Văn Hoài (2006): “Đôi nét về đường lối đối ngoại, hội nhập của Đảng cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới 1986 – 2005″, TC Khoa học xã hội, Số 11, trang 3-7.

(18)    Lê Thị Tình (2009): “Hoạt động đối ngoại nhân dân những năm đầu thế kỷ XXI.”, TC Lịch sử Đảng, Số 7, trang 44-48.

(19)    Lưu Văn An (2011 ): “Khủng bố quốc tế và cuộc đấu tranh chống khủng bố trên thế giới “, Lý luận chính trị và truyền thông, Số 1, trang 21-27.

(20)    Trần Nam Chuân (2011 ): “Một số định hướng xây dựng chiến lược bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, biển đảo thời kỳ hội nhập quốc tế”, Lý luận chính trị, Số 1, trang 34-38.

(21)    Nguyễn Văn Lan (2009): “Tăng cường công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế về biển phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”, Lý luận chính trị, Số 6, trang 37-41, 48.

(22)    Bùi Thị Thảo (2010 ): “Nhìn lại quá trình bình thường hoá quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ và những chuyển biến trong quan hệ song phương đầu thế kỷ XXI (2001-2010)”, Châu Mỹ ngày nay, Số 12, trang 52-65.

(23)    Vũ Xuân Hồng (2010): “Những đóng góp của hoạt động đối ngoại nhân dân trong công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước”, Thông tin đối ngoại, Số 2, trang 29-31, 60.

(24)    Phạm Minh Sơn;  Phan Thanh Hải (2008): “Phương pháp ngoại giao “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh và hoạt động đối ngoại của đảng ta hiện nay”, Thông tin Đối ngoại, Số 6, trang 25-27.

(25)    Trần Minh Trưởng (2009): “Tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ quốc tế và hội nhập quốc tế”, Xây dựng Đảng, Số 5, trang 59-60.

(26)    Vũ Quang Vinh;  Ngô Chí Nguyện (2006): “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại – cơ sở lý luận của nền ngoại giao Việt Nam thời kỳ đổi mới”, TC Khoa học chính trị, Số 6, trang 16-19, 72.

(27)    Phạm Tuấn Anh (2004): “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay”, TC Khoa học xã hội, Số 10, trang 27-30.

(28)    Nguyễn Trọng Tứ (2010): “Quá trình phát triển đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ đổi mới”, Thông tin đối ngoại, Số 5, trang 31-36.

(29)    Đinh Xuân Lý (2005): “Quá trình thiết lập và mở rộng quan hệ Việt Nam – Liên minh Châu âu theo đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng”, TC Lịch sử Đảng, Số 11, trang 44-48.

(30)    Đinh Xuân Lý (2004): “Tiến trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Mỹ theo đường lối đối ngoại đổi mới”, TC Lịch sử Đảng, Số 3, trang 36-38, 50.

(31)    Đinh Xuân Lý (2007): “Về sự chuyển hướng chiến lược đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”, Nghiên cứu lịch sử, Số 6, trang 16-22.

(32)    Bùi Văn Hùng (2006): “Vài nét về chính sách đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (1986 – 2005)”, Nghiên cứu lịch sử, Số 8, trang 30-36.

(33)    Hoàng Ngọc Hòa (2005): “Vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế trong quá trình đổi mới”, TC Lịch sử Đảng, Số 1, trang 25-31.

(34)    Nguyễn Hồng Hải (2009): “Vấn đề nhân quyền đối với Châu á trong chính sách đối ngoại của chính quyền mới ở Mỹ – cách tiếp cận đa phương hay song phương”, Thông tin khoa học xã hội, Số 1, trang 41-48.

(35)    Vũ Dương Huân (2007): “Về vấn đề đổi mới tư duy trong hoạt động đối ngoại của Việt Nam”, Nghiên cứu quốc tế, Số 1, trang 9-19.

(36)    Nguyễn Tiến Nghĩa (2006): “Trật tự thế giới sau :”Chiến tranh lạnh”: những quan niệm khác nhau”, TC Cộng sản, Số 20, trang 62-67

(37)    Lê Quang Hòa (2005): “Thách thức về chủ quyền quốc gia của Việt nam trong quá trình toàn cầu hóa ngày nay”, Lý luận chính trị, Số 11, trang 44-47.

(38)    David Dapice (2004): “Toàn cầu hóa: Lịch sử, tổng quan hiện nay và ý nghĩa đối với Việt Nam”, Thông tin Khoa học Công nghệ (Nghệ An), Số 5, trang 42-44.

(39)    Nguyễn Hữu Sở (2007): “Toàn cầu hoá, tăng trưởng và đói nghèo trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới”, TC Cộng sản, Số 782, trang 104-108.

(40)    Nguyễn Thanh (2007): “Vấn đề chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế ở Việt nam hiện nay”, Triết học, Số 8, trang 20-25.

(41)    Phạm Thanh Hà (2006): “Việt Nam hội nhập sâu rộng và phát triển thông qua đường lối đối ngoại chủ động”, TC Nông thôn mới, Số 183, trang 9-10, 12.

(42)    Vũ Dương Huân (2007 ): “Bàn về lợi ích dân tộc và lợi ích quốc gia trong quan hệ quốc tế”, Nghiên cứu quốc tế Số 2, trang 74-85.

Có 1 phản hồi tại Tài liệu: Thông tin học phần & Đề cương học phần Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam

  1. Kim Dung nói:

    thầy ơi sao không thể down được tài liệu vậy ạ?

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: