HIỆP ĐỊNH GENÈVE 1954, HIỆP ĐỊNH PARIS 1973

Tháng Sáu 5, 2012
Tiếng Việt: Chữ ký của Bộ trưởng ngoại giao Vi...

Tiếng Việt: Chữ ký của Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Duy Trinh và Bộ trưởng ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình tại Hiệp định Paris 1973 về Việt Nam (Photo credit: Wikipedia)

HIỆP ĐỊNH GENÈVE 1954

* Cuộc đấu tranh ngoại giao ở Genève diễn ra gay go và phức tạp, cuối cùng đi đến ký kết Hiệp định ngày 21-7-1954. Hiệp định Genève 1954 về Đông Dương có những nội dung chính như sau:

-Chính phủ Pháp và các nước tham dự Hội nghị tuyên bố: ”Mỗi nước tham gia Hội nghị Genève cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của những nước trên (tức Việt Nam, Lào. Campuchia và tuyệt đối không can thiệp vào nội trị của những nước đó”

- Hai bên phải ngừng bắn, tập kết quân đội về hai vùng, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời cùng với một khu phi quân sự ở hai bên giới tuyến. “Giới tuyến quân sự chỉ có tính chất tạm thời, hoàn toàn không thể coi là ranh giới về chính trị và lãnh thổ”. Hiệp định cấm việc đưa quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí nước ngoài vào ba nước Đông Dương. Các nước ngoài không được đặt căn cứ quân sự ở Đông Dương. Các nước Đông Dương không được gia nhập những khối liên minh quân sự và không được để các nước khác dùng lãnh thổ của mình để gây lại chiến tranh hoặc phục vụ mục đích xâm lược.

- Việt Nam sẽ thực hiện thống nhất bằng cuộc tổng tuyển cử tự do trong cả nước. Cuộc tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7- 1956 dưới sự kiểm soát của một Uỷ ban quốc tế (gồm Ấn Độ, Ba Lan, Canađa do Ấn Độ làm Chủ tịch).

- Trách nhiệm thi hành Hiệp định Genève thuộc về những người kí hiệp định và những người kế tục của họ.

* Mỹ không kí vào bản tuyên bố chung của Hội nghị, mà ra một tuyên bố riêng cam kết tôn trọng Hiệp định Genève về Đông Dương.

* Tuy còn có những hạn chế, nhưng Hiệp định Genève 1954 về Đông Dương là một thắng lợi lớn; bởi vì: ”Hiệp định Genève đã trịnh trọng công nhận chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân anh em Lào và Campuchia. Các nước phương Tây, Mỹ, Anh, Pháp tham gia Hội nghị ấy đều cam kết tôn trọng những quyền dân tộc bất khả xâm phạm đó” (Hồ Chí Minh)

HIỆP ĐỊNH PARIS 1973

* Ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris về lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký. Nội dung Hiệp định gồm những điều khoản cơ bản sau:

- Hoa Kỳ và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

- Hoa Kỳ rút hết quân viễn chinh và quân các nước thân Mỹ, phá hết các căn cứ quân sự Mỹ, cam kết không dính líu quân sự hoặc can thiệp vào nội bộ của miền Nam Việt Nam.

- Các bên để nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị thông qua tổng tuyển cử tự do.

- Các bên công nhận thực tế miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và ba lực lượng chính trị.

- Các bên ngừng bắn tại chỗ, trao trả tù binh và dân thường bị bắt.

- Hoa Kỳ cam kết góp phần vào việc hàn gắn các vết thương chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương.

* Ngày 2-3-1973, Hội nghị quốc tế về Việt Nam được triệu tập tại Paris  gồm đại biểu của 12 nước là Liên Xô, Trung Quốc, Anh, Pháp, bốn bên tham gia ký kết Hiệp định và bốn nước trong Uỷ ban giám sát và kiểm soát quốc tế (Ba Lan, Canada, Hungarie, Indonesia), với sự có mặt của ông Tổng thư ký Liên Hợp Quốc. Tất cả các nước tham dự Hội nghị đã ký vào bản Định ước công nhận về mặt pháp lý quốc tế Hiệp định Paris về Việt Nam và  đảm bảo cho Hiệp định được thi hành nghiêm chỉnh.

* Hiệp định Paris về Việt Nam là một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của quân và dân ta trong cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất vì độc lập tự do, tạo ra bước ngoặt mới cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đó cũng là một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của mặt trận đấu tranh ngoại giao nói riêng. Nhân dân ta đã căn bản hoàn thành sự nghiệp “đánh cho Mỹ cút”, làm so sánh lực lượng trên chiến trường thay đổi có lợi cho ta, tạo điều kiện  thuận lợi cho quân và dân ta tiếp tục tiến lên “đánh cho ngụy nhào”, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.


Ý NGHĨA CỦA ĐƯỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ

Tháng Sáu 5, 2012

Ý NGHĨA CỦA ĐƯỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ

- Lịch sử đã chứng minh rằng, đường lối chống Mỹ, cứu nước đã phản ánh đúng quy luật vận động của cách mạng ở từng miền và chung của cả nước giai đoạn cách mạng 1954-1975.

- Đường lối đã thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ của Đảng trong việc tìm ra lời giải cho một tình huống khó khăn, đối đầu với đế quốc đầu sỏ có tiềm năng kinh tế, quân sự vô cùng to lớn, tìm ra đáp số đúng cho một thực tế chưa có tiền lệ trong lịch sử.

- Đường lối thể hiện quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, tinh thần cách mạng tiến công, sự kiên trì mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, phản ánh ý chí, nguyện vọng chung của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân.

- Đường lối là kết quả của sự vận dụng học thuyết Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa đấu tranh cách mạng và bảo vệ hoà bình, thể hiện nhất quán tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, phù hợp với lợi ích của dân tộc, nhân loại và xu thế của thời đại, từ đó huy động và kết hợp được sức mạnh của hậu phương và tiền tuyến, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ được sự đồng tình giúp đỡ của cả Liên Xô và Trung Quốc, tạo ra được sức mạnh tổng hợp để dân tộc ta đủ sức đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

- Đường lối chiến lược chung cho cả nước và đường lối cách mạng ở mỗi miền là cơ sở để Đảng chỉ đạo quân dân ta phấn đấu giành được những thành tựu to lớn trong xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thắng lợi chống các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và tay sai ở miền Nam.

- Đây là đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính được phát triển trong hoàn cảnh mới, tạo nên sức mạnh mới để dân tộc ta đủ sức thắng đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

- Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là một minh chứng hùng hồn cho sự đúng đắn, sáng tạo của đường lối kháng chiến chống Mỹ mà Đảng đề ra. Nó đồng thời cho thấy, đường lối ấy đã đạt tầm cao trí tuệ nhân loại và thời đại, là một đóng góp đáng kể vào kho tàng lý luận quân sự thế giới.


Ý NGHĨA CỦA ĐƯỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC

Tháng Sáu 5, 2012
Bản đồ mô tả cuộc khánh chiến chống quân Nguyê...

Bản đồ mô tả cuộc khánh chiến chống quân Nguyên lần 3 của nhà Trần, Việt Nam. Hình chụp tại đền Trần – Nam Định – Việt Nam (Photo credit: Wikipedia)

- Đường lối kháng chiến của Đảng là sự kế thừa, nâng lên tầm cao mới tư tưởng quân sự truyền thống của cha ông ta, là sự vận dụng luận chiến tranh cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin và kinh nghiệm quân sự một số nước anh em vào điều kiện Việt Nam.

- Đường lối kháng chiến của Đảng thể hiện tư tưởng kết hợp độc lập dân tộc và CNXH trong điều kiện chiến tranh cách mạng bảo vệ Tổ quốc. Đó là đường lối chiến tranh nhân dân, kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực cánh sinh là chính.

- Đường lối kháng chiến của Đảng là đường lối đấu tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc, tập trung vào nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc. Nhiệm vụ cách mạng ruộng đất, chống phong kiến được tiến hành từng bước, kết hợp và phục vụ cho nhiệm vụ chống đế quốc. Đường lối đó là đúng đắn, sáng tạo.

- Đường lối kháng chiến lâu dài, toàn diện toàn dân là niềm tin, động lực, sức mạnh cho toàn dân Việt Nam chiến đấu và chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ.

- Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chứng minh sự tài tình của việc hoạch định đường lối, cũng như tổ chức chỉ đạo kháng chiến của Đảng. Với chiến thắng Điện Biên Phủ – kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi cho thấy Đảng đạt tầm cao tư tưởng và trí tuệ Việt Nam, cũng như thời đại.

- Tuy nhiên, do chưa có thực tiễn chỉ đạo kháng chiến nên cũng có những điểm hạn chế, còn nhiều biểu hiện của sự rập khuôn theo lý luận quân sự nước ngoài như lý luận kháng chiến ba giai đoạn (phòng ngự, cầm cự, tổng phản công). Những hạn chế ấy được dần nhận thức qua thực tiễn của cuộc kháng chiến và từng bước bổ sung đường lối kháng chiến, phát triển một cách khoa học nghệ thuật chiến tranh nhân dân.


SỰ GIỐNG NHAU, KHÁC NHAU GIỮA CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC SO VỚI CÁC CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC KHÁC TRƯỚC KHI THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Tháng Sáu 5, 2012

SỰ GIỐNG NHAU, KHÁC NHAU GIỮA CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC SO VỚI CÁC CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC KHÁC TRƯỚC KHI THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Sự lạc hậu, kém phát triển của nước Việt Nam đã khiến cho quốc gia này không đủ sức mạnh duy trì, phát triển các quyền dân tộc, quyền con người. Hậu quả là, cuối thế kỷ XIX, nước Việt Nam mất độc lập, đại bộ phận nhân dân Việt Nam lầm than, cơ cực, mất tự do. Chính quyền đại diện cho người Việt Nam trong hệ thống chính trị thuộc địa nửa phong kiến đã không làm đúng chức năng đảm bảo an toàn và hạnh phúc cho người dân. Yêu cầu lịch sử đặt ra là phải tìm ra con đường cứu nước, thực hiện được giải phóng dân tộc, giải phóng con người, phải thiết lập được chính quyền đảm bảo tốt nhất sự an toàn và hạnh phúc của Nhân dân.

Trước thách thức của lịch sử, nhân dân Việt Nam đã tiến hành giải phóng dân tộc, giải phóng con người bằng nhiều phong trào đấu tranh theo những con đường cứu nước khác nhau.

Bài viết này sẽ khảo sát các phong trào yêu nước từ khi Pháp xâm lược cho tới trước khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam để rút ra các đặc điểm con đường cứu nước, trên cơ sở đó, đối sánh với con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc để tìm ra các điểm giống và khác nhau.

**************

Đọc tiếp »


BẠCH THÁI BƯỞI – “ÔNG VUA TÀU THỦY” ĐẦU THẾ KỶ XX

Tháng Sáu 5, 2012

Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp (1897-1914) đã làm cho cơ cấu xã hội Việt Nam có những chuyển biến sâu sắc. Bên cạnh những giai cấp cũ, xuất hiện những giai tầng mới như giai cấp công nhân, tầng lớp tư sản, tiểu tư sản. Do bị tư sản Pháp và phong kiến trong nước chèn ép nên giai cấp tư sản Việt Nam nhỏ bé về kinh tế. Tuy nhiên, trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam cũng mạnh hơn, vì hàng hoá của Pháp vào Việt Nam bị giảm sút, nhiều tư sản Pháp rút vốn. Nhiều người đã trở thành ông chủ của những hãng buôn, hãng sản xuất lớn, như Bạch Thái Bưởi.

Đọc tiếp »


SO SÁNH ĐƯỜNG LỐI CÔNG NGHIỆP HÓA VIỆT NAM CỦA ĐẢNG TRƯỚC VÀ TRONG ĐỔI MỚI, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trước và sau đổi mới, đường lối, Đảng Cộng sản Việt Nam (lần 1, cũ)

Tháng Sáu 5, 2012
Tiếng Việt: Tốc độ tăng trưởng thu nhập quốc d...

Tiếng Việt: Tốc độ tăng trưởng thu nhập quốc dân thực tế hàng năm (dựa theo giá so sánh 1982) của nền kinh tế và các ngành lớn. Đơn vi: phần trăm. Nguồn số liệu để vẽ hình này là Bảng 7.1 trang 293 trong Trần Văn Thọ chủ biên (2000), Kinh tế Việt nam 1955-2000: Tính toán mới, phân tích mới, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội. (Photo credit: Wikipedia)

Có bài khác, đầy đủ hơn: SO SÁNH ĐƯỜNG LỐI CÔNG NGHIỆP HÓA VIỆT NAM CỦA ĐẢNG TRƯỚC VÀ TRONG ĐỔI MỚI, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trước và sau đổi mới, đường lối, Đảng Cộng sản Việt Nam

vietnam-ricefiled

vietnam-ricefiled (Photo credit: melaniedornier.photoshelter.com)

SO SÁNH ĐƯỜNG LỐI CÔNG NGHIỆP HÓA VIỆT NAM CỦA ĐẢNG TRƯỚC VÀ TRONG ĐỔI MỚI, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trước và sau đổi mới, đường lối, Đảng Cộng sản Việt Nam

Công nghiệp hóa (CNH) bằng con đường như nào là đúng để đưa Việt Nam có sự phát triển cất cánh, thần kỳ? Làm sao phát huy cao bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam trong thời đại mới? Làm sao để một nước anh hùng nhưng còn nghèo như Tổ quốc thân yêu của chúng ta sớm khắc phục tình trạng tụt hậu, trở thành nước anh hùng, giàu mạnh và văn minh, đuổi kịp và sánh vai cùng các nước trung bình, rồi từng bước với các nước tiên tiến trên thế giới, như trước đây đã từ một nước thuộc địa trở thành một trong những nước đi tiên phong trong phong trào giải phóng dân tộc  – đó vẫn còn là những câu hỏi, là thách thức lịch sử với mỗi công dân trách nhiệm tiếp tục giải quyết.

Nhận thức đầy đủ vai trò của CNH với sự hưng thịnh của quốc gia dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có hơn nửa thế kỷ liên tục (52 năm: 1960-2012) lãnh đạo nhiều triệu dân trên lãnh thổ hàng nghìn km2 thực hiện CNH theo những quan niệm, mô hình và cơ chế rất khác nhau với những thể nghiệm, tìm tòi, rồi điều chỉnh, bổ sung, phát triển để không ngừng hoàn thiện.

Nhìn tổng quan, đường lối CNH của Đảng thời kỳ trước và sau đổi mới có những điểm giống và khác rất rõ rệt.

Bài viết  tiến hành so sánh đường lối CNH của Đảng dựa trên những tiêu chí chính sau: mạch tư duy và quyết tâm chính trị; cách giải quyết mối quan hệ giữa LLSX và QHSX;  cơ chế kinh tế; lực lượng tiến hành, cơ chế phân bổ các nguồn lực, nguồn vốn; chiến lược phát triển; yếu tố thời đại; cách thức kết hợp, đặc điểm sử dụng các yếu tố từ nhiều mô hình…

Bài viết sử dụng nguồn sử liệu chính là Văn kiện Đảng toàn tập cùng các phương pháp phù hợp của Khoa học lịch sử. Một số tài liệu đáng lưu tâm là:  Bản trình bày của Tiểu ban Chiến lược kinh tế – xã hội số 350/TLHN, ngày 14 tháng 8 năm 1990 về Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2000 và kế hoạch 5 năm 1991-1995; Bản trình bày của Bộ Chính trị Số 174/TLHN, ngày 30 tháng 7 năm 1994 Về những ý kiến của Trung ương thảo luận các đề án và góp ý vào dự thảo Nghị quyết…

Bài khác, đầy đủ hơn: SO SÁNH ĐƯỜNG LỐI CÔNG NGHIỆP HÓA VIỆT NAM CỦA ĐẢNG TRƯỚC VÀ TRONG ĐỔI MỚI, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trước và sau đổi mới, đường lối, Đảng Cộng sản Việt Nam

Đọc tiếp »


NỘI DUNG ÔN TẬP MÔN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (sưu tầm)

Tháng Sáu 3, 2012

NỘI DUNG ÔN TẬP BỘ MÔN ĐƯỜNG LỐI

( chỉ mang tính chất tham khảo)

Câu 1. Quá trình chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và nội dung cơ bản trong Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng (2-1930).
Câu 2. Chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng trong thời kỳ 1939-1941 và sự chỉ đạo sáng tạo của Đảng trong việc xây dựng lực lượng, nắm thời cơ, phát động tổng khởi nghĩa, giành chính quyền trong cách mạng tháng Tám 1945.
Câu 3. Nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ (1945-1954) và quá trình hình thành, phát triển và nội dung cơ bản đường lối cách mạng miền Nam (1954-1975).
Câu 4. Trình bày quá trình đổi mới tư duy của Đảng về công nghiệp hóa từ Đại hội VI đến Đại hội X.
Câu 5. Quá trình hình thành đường lối kinh tế thị trường định hướng XHCN. Trình bày những quan điểm của Đảng tại Đại hội X (4-2006) về định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường ở nước ta.
Câu 6. Mục tiêu, quan điểm và chủ trương của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị thời kỳ đổi mới.
Câu 7. Trình bày Đường lối của Đảng về xây dựng, phát triển nền văn hóa và giải quyết những vấn đề xã hội trong thời kỳ đổi mới.
Câu 8. Trình bày đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ đổi mới và những chủ trương, chính sách lớn về mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế.
Câu 9:Phân tích đường lối đổi mới của đảng CSVN trong giai đoạn từ 1986 đến nay?

Đọc tiếp »


Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 93 other followers