Tiết số 03: Sự phát triển phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Tiết số 03: Sự phát triển phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Cuối thế kỷ XIX, mặc dù triều đình phong kiến nhà Nguyễn ký các Hiệp ước Hác-măng (Harmand) năm 1883 và Pa-tơ-nốt (Patenôtre) năm 1884, đầu hàng thực dân Pháp, song phong trào chống thực dân Pháp xâm lược vẫn diễn ra theo những khuynh hướng khác nhau: khuynh hướng phong kiến, khuynh hướng dân chủ tư sản, khuynh hướng vô sản.

- Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến

+ Phong trào Cần Vương (1885-1896)

+ Khởi nghĩa nông dân Yên Thế (1883-1913)

Mặc dù chiến đấu rất anh dũng, nhưng cuối cùng các phong trào đều bị dập tắt. Sự thất bại này chứng tỏ hệ tư tưởng phong kiến không thể giúp nhân dân ta thoát khỏi kiếp nô lệ. Nó hoàn toàn bất lực trước nhiệm vụ của lịch sử đề ra.

- Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản.

+ Xu hướng bạo động của Phan Bội Châu

+ Xu hướng cải cách của Phan Châu Trinh

+ Các phong trào đấu tranh của giai cấp tư sản Việt Nam: * Phong trào quốc gia cải lương (1919-1923), * Phong trào yêu nước dân chủ công khai (1925-1926), * Phong trào cách mạng quốc gia tư sản gắn liền với cuộc khởi nghĩa Yên Bái….

=> Nhìn chung, các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam đã diễn ra liên tục, sôi nổi, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia với những hình thức đấu tranh phong phú, thể hiện ý thức dân tộc, tinh thần chống đế quốc của giai cấp tư sản Việt Nam, nhưng cuối cùng đều thất bại vì giai cấp tư sản Việt Nam rất nhỏ yếu cả về kinh tế và chính trị nên không đủ sức giương cao ngọn cờ lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc.

- Các giai cấp lãnh đạo phong kiến và tư sản với những ngọn cờ tư tưởng của họ đều đã lỗi thời. Do vậy, họ không có một đường lối lãnh đạo đúng đắn, không có phương pháp đấu tranh thích hợp.

=> Mặc dù thất bại nhưng các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản đã góp phần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân ta, bồi đắp thêm cho chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, đặc biệt góp phần thúc đẩy những nhà yêu nước, nhất là lớp thanh niên trí thức có khuynh hướng dân chủ tư sản chọn lựa một con đường mới, một giải pháp cứu nước, giải phóng dân tộc theo xu thế của thời đại và nhu cầu mới của nhân dân Việt Nam.

c) Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản

- Sự ra đời và hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên

+ Sự ra đời:

Cuối năm 1924, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về Quảng Châu, Trung Quốc. Đây là nơi có đông người Việt nam yêu nước sinh sống và hoạt động, để xúc tiến mọi công tác chuẩn bị cho sự ra đời của một đảng Mácxit của Việt Nam. Với tư cách là đặc phái viên của Quốc tế Cộng sản, trực tiếp Cục Phương Nam, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu tìm hiểu tình hình hoạt động của những người yêu nước Việt Nam đang sinh sống tại đây, đặc biệt Người đã tiếp xúc với một nhóm thanh niên trong tổ chức “Tâm tâm xã”. Trên cơ sở đó, Người lựa chọn một số thanh niên tích cực để tuyên truyền giác ngộ và thành lập “Cộng sản đoàn” (9 người) (2/1925).

Dựa trên nhóm Cộng sản đoàn, Nguyễn Ái Quốc đứng ra thành lập một tổ chức cách mạng có tính chất quần chúng rộng rãi hơn lấy tên là Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (6/1925).

Ngay sau khi ra đời “Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội” đã công bố Chương trình, Điều lệ thể hiện rõ lập trường quan điểm và nguyên tắc tổ chức của hội.

Chương trình của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên nêu rõ mục đích của Hội là hi sinh tính mệnh, quyền lợi, tư tưởng làm cách mạng dân tộc (đánh đổ đế quốc xâm lược để giành độc lập cho dân tộc), sau đó sẽ làm cách mạng thế giới (đánh đổ đế quốc xây dựng chủ nghĩa cộng sản).

Về đường lối chính trị, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên chủ trương: thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc rồi tiến lên làm cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa; thành lập chính phủ công – nông – binh, thực hiện chính sách phát triển sản xuất, xóa bỏ tư bản, xây dựng chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam và trên thế giới.

Trước mắt, sau khi thành lập, chính phủ công nông binh sẽ thực hiện chính sách chia ruộng đất cho nông dân, thực hiện ngày làm 8h, bãi bỏ thuế thân và các thứ thuế vô lý khác, thực hiện các quyền tự do dân chủ, nam nữ bình quyền…

Phải đoàn kết với lực lượng cách mạng thế giới.

Về tổ chức, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên được xây dựng thành 5 cấp có hệ thống chặt chẽ từ Trung ương đến địa phương: Tổng bộ – Kỳ bộ – Tỉnh bộ – Huyện bộ – Chi bộ.

Như vậy, Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng chưa phải là Đảng Cộng sản nhưng Chương trình, điều lệ của Hội đã thể hiện một cách đầy đủ lập trường, quan điểm của giai cấp vô sản.

Về thành phần xã hội khi mới ra đời, lực lượng trí thức chiếm tới 90%, thành phần công nông chỉ có 10%. Về sau, thành phần công nông trong Hội đã tăng lên nhưng tri thức cũng chiếm tới 40%.

+ Hoạt động

Sau khi thành lập, Hội đã cử người về nước tuyển chọn những thanh niên tích cực sang Quảng Châu để đào tạo và bồi dưỡng họ về chính trị và tổ chức. Trong khoảng thời gian từ 1925 đến 1927, Hội đã mở trên 10 lớp huấn luyện và đào tạo được trên 200 hội viên…

Ngoài việc đào tạo, huấn luyện cán bộ, dưới sự chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Tổng bộ còn cử người đi học tại trường Đại học Phương Đông (Liên Xô) và trường Quân chính Hoàng Phố (của Quốc dân Đảng Trung Hoa).

Để đẩy mạnh công tác tuyên truyền, Hội cho ra tờ báo Thanh niên nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin và làm cơ quan ngôn luận của Hội.

Bằng nhiều con đường, báo Thanh niên được bí mật chuyển về nước và được mọi tầng lớp nhân dân yêu nước hăng hái tìm đọc.

+ Hội có vai trò quan trọng trong việc tổ chức, đào tạo một đội ngũ cán bộ Mácxit. Đồng thời, Hội còn góp phần truyền bá sâu rộng chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước, tạo tiền đề về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập đảng cộng sản ở nước ta.

+ Sự ra đời và hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên có ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong trào cách mạng trong nước, làm cho khuynh hướng cứu nước giải phóng dân tộc theo con đường cách mệnh của Nguyễn ái Quốc ngày càng chiếm ưu thế.

+ Năm 1928, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên thực hiện chủ trương “Vô sản hóa”, đưa hội viên của mình vào các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền trong nước, cùng sống và làm việc với công nhân, đồng thời cũng là phương thức truyền bá lý luận giải phóng dân tộc, tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh .

+ Việc truyền bá lý luận giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng của Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh đã phải “chọc thủng lưới sắt của bọn thực dân Pháp” mới đến được với nhân dân Việt Nam ta.

+ Cùng với cuộc đấu tranh chống lại chính sách khủng bố của bọn đế quốc, những người theo con đường cách mạng Hồ Chí Minh, con đường cách mạng của học thuyết Mác-Lênin còn phải đấu tranh với các đề xướng và vận động thành lập các chính đảng quốc gia, thành lập “khối dân tộc”. Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên cũng kiên quyết đấu tranh chống lại quan điểm lập hiến của Bùi Quang Chiêu, Phạm Quỳnh, thuyết “trực trị” của Nguyễn Văn Vĩnh. Cuộc đấu tranh chống lại đường lối của Việt Nam Quốc dân Đảng, một đường lối dân tộc chủ nghĩa hẹp hòi tiểu tư sản không kém phần gay gắt.

+ Lập trường giải phóng dân tộc đúng đắn của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã thắng lập trường giải phóng dân tộc tư sản. Nó đã giáo dục, giác ngộ nhiều người yêu nước chân chính theo con đường cách mạng Hồ Chí Minh, đào tạo và rèn luyện họ thành những chiến sĩ cách mạng trung thành làm nòng cốt cho việc thành lập đảng cộng sản.

+ Sự truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước gắn liền với việc xây dựng các tổ chức cơ sở của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở nhiều trung tâm kinh tế, chính trị quan trọng. Số hội viên của Hội tăng nhanh. Năm 1928, có 300 hội viên, năm 1929, có 1.700 hội viên. Tổ chức công hội cũng đã được xây dựng trong nhiều nhà máy, hầm mỏ. Một số đảng viên tiên tiến trong Tân Việt cũng ngả theo Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Nhiều người đã trở thành hội viên của Hội.

=> Việc truyền bá lý luận giải phóng dân tộc và tổ chức, vận động nhân dân đấu tranh đã dấy lên một phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt là phong trào công nhân.

- Phong trào công nhân

+ Sự ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam

Giai cấp công nhân nước ta được hình thành ngay trong chương trình khai thác thuộc địa lần I (1897-1914). Tuy nhiên, lúc này còn rất hạn chế về số lượng (mới có khoảng 10 vạn). Thêm nữa, ý thức giai cấp và trình độ nhận thức chính trị của họ rất hạn chế. Bởi vậy, trong thời kỳ đầu giai cấp công nhân mới chỉ biết sử dụng những hình thức đấu tranh rất sơ khai như đánh chủ, bỏ trốn tập thể…

Cuộc đấu tranh của công nhân xuất hiện ngay từ khi giai cấp công nhân ra đời. Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất phong trào đã diễn ra với những hình thức sơ khai như bỏ trốn tập thể, phá giao kèo, đốt lán trại, đánh cai ký, đưa đơn phản kháng, rồi tiến dần lên những hình thức đấu tranh đặc thù của giai cấp mình như bãi công. Năm 1907, đã nổ ra cuộc bãi công đầu tiên của 200 công nhân viên chức hãng Liên hiệp Thương mại Đông Dương (LUCI) ở Hà Nội. Năm 1912, có cuộc bãi công của công nhân Ba Son và cuộc bãi khóa của học sinh trường Bách nghệ Sài Gòn… Ngoài ra, công nhân còn tham gia các phong trào yêu nước khác: công nhân mỏ than Đông Triều tham gia đội nghĩa quân của lãnh binh Pha và lãnh binh Hy (1892); công nhân làm đường Phủ Lạng Thương – Lạng Sơn tham gia phong trào khởi nghĩa Yên Thế, tập kích các đạo quân đóng dọc đường sắt và nhà ga (1894); những bồi bếp và công nhân làm trong quân đội Pháp tham gia vụ đầu độc binh lính và sĩ quan Pháp ở Hà Nội (1908); công nhân tham gia khởi nghĩa Duy Tân ở Huế (1916); trong cuộc binh biến ở Thái Nguyên, công nhân tham gia trực tiếp chiến đấu, hoặc rèn vũ khí cho nghĩa quân (1917).

Đến chương trình khai thác thuộc địa lần II (từ 1919 trở đi), phong trào công nhân nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ.

Phong trào công nhân Việt Nam trong những năm 1919-1929 không chỉ là sự tiếp nối phong trào đấu tranh cách mạng ở thời kỳ trước mà còn phản ánh tập trung rõ nét nhất quá trình chuyển biến của giai cấp công nhân từ trình độ tự phát sang tự giác.

Bản chất của sự trưởng thành của phong trào công nhân trong giai đoạn này là quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin. Nhờ vào chủ nghĩa Mác-Lênin mà ý thức giai cấp và nhận thức chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam được nâng lên. Theo đó, phong trào đấu tranh của họ cũng chuyển biến cả về số lượng và chất lượng.

Quá trình đấu tranh của giai cấp công nhân nước ta trong giai đoạn 1919-1929 được chia làm 2 thời kỳ ngắn: thời kỳ đấu tranh tự phát (1919-1929) và thời kỳ đấu tranh tự giác (1925-1929).

+ Thời kỳ tự phát 1919-1925

Hoàn cảnh

Bắt đầu từ năm 1919 trờ đi, những điều kiện chủ quan và khách quan đã có tác động mạnh mẽ đến giai cấp công nhân nước ta. Ở trong nước, chương trình khai thác thuộc địa lần II của thực dân Pháp được đẩy mạnh về nhịp độ, mở rộng về quy mô, phạm vi. Ứng với sự mở rộng và xây dựng mới của các cơ sở công nghiệp là sự phát triển nhanh chóng về số lượng của giai cấp công nhân. Năm 1929, công nhân nước ta đã có khoảng 22 vạn người. Thêm nữa, quá trình bóc lột một cách độc ác của bọn chủ tư bản đối với công nhân nước ta cũng là quá trình “cách mạng hóa” đối với họ. Ở bên ngoài, ảnh hưởng to lớn của Cách mạng tháng Mười Nga 1917 và những hoạt động tích cực của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã góp phần truyền bá những tư tưởng cách mạng, mặc dù còn ít ỏi vào phong trào cách mạng Việt Nam nói chung và phong trào công nhân nói riêng. Theo đó, ý thức giác ngộ chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam được nâng lên rõ rệt.

Phong trào

Do những điều kiện thuận lợi mới nên phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân nước ta giai đoạn này đã có những bước tiến mới đáng kể.

Mở đầu là những cuộc đấu tranh của thủy thủ, công nhân hai cảng Sài Gòn – Hải Phòng nổ ra năm 1919. Công nhân đã đấu tranh đòi giới chủ phải thực hiện chính sách cải thiện đời sống, cải thiện điều kiện làm việc.  Tiếp đó là các cuộc bãi công của công nhân viên chức các sở công thương tư nhân Bắc Kỳ, công nhân các lò nhuộm ở Sài Gòn, Chợ Lớn (1922), các nhà máy dệt, rượu, xay xát ở Nam Định, Hà Nội, Hải Dương (1924)…  Trong khoảng thời gian 6 năm có hơn 25 cuộc đấu tranh của công nhân nổ ra.

Đỉnh cao của phong trào công nhân thời kỳ này là cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân xưởng thợ Ba Son, Sài Gòn nổ ra vào tháng 8 năm 1925 dưới sự lãnh đạo của tổ chức “Công hội đỏ” do đồng chí Tôn Đức Thắng phụ trách. Thợ thuyền Ba Son đã kiên trì cuộc đấu tranh cản trở tàu chiến Pháp chở vũ khí và quân đội sang đàn áp phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Trung Quốc. Đây là biểu hiện sáng ngời của tinh thần quốc tế vô sản cao cả, của giai cấp công nhân Việt Nam.

Đặc điểm:

Số lượng: 25 cuộc bãi công, tiêu biểu là các cuộc bãi công của công nhân viên chức các sở công thương tư nhân Bắc Kỳ, công nhân các lò nhuộm ở Sài Gòn, Chợ Lớn (1922), các nhà máy dệt, rượu, xay xát ở Nam Định, Hà Nội, Hải Dương (1924). Đáng chú ý nhất là cuộc bãi công của hơn 1.000 công nhân Xưởng sửa chữa tàu thuỷ Ba Son, Sài Gòn (8-1925) do Tôn Đức Thắng tổ chức.

Hình thức đấu tranh chủ yếu là phá máy móc, đánh cai ký, chủ thầu, phá giao kèo, bỏ trốn tập thể.

Mục tiêu đấu tranh: chủ yếu là đòi  quyền lợi kinh tế như đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống đánh đập, cúp phạt.

Quy mô: nhỏ bé, lẻ tẻ, rời rạc.

Tính chất: tự phát và phụ thuộc vào phong trào yêu nước.

Nhận xét:

Phong trào công nhân (1919-1925) đã có bước phát triển mới so với trước đây. Công nhân đã tiến lên sử dụng hình thức đấu tranh đặc trưng là bãi công. Thêm nữa, từ trong phong trào đấu tranh, những tổ chức chính trị đầu tiên đại diện cho quyền lợi của giai cấp công nhân Việt Nam đã xuất hiện như Công hội đỏ (1920), một số công nhân gia nhập Liên đoàn công nhân tàu biển Viễn Đông (1921).

Tuy nhiên, phong trào công nhân giai đoạn này vẫn còn những hạn chế như về mục đích các cuộc đấu tranh mới chỉ tập trung vào các nội dung kinh tế. Về quy mô, phong trào bị bó hẹp trong các hàng rào của một nhà máy, xí nghiệp, đồn điền, diễn ra lẻ tẻ. Về tổ chức, chỉ có duy nhất 1/25 cuộc đấu tranh của công nhân nổ ra là có sự lãnh đạo, tổ chức chặt chẽ (cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son 8/1925).

=> Phong trào công nhân nước ta giai đoạn này vẫn còn dừng ở trình độ tự phát.

+ Thời kỳ tự giác 1925-1929

Hoàn cảnh

Từ năm 1925 trở đi, những điều kiện thuận lợi mới đã được mở ra đối với phong trào cách mạng Việt Nam nói chung và phong trào công nhân nói riêng. Từ bên ngoài, Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V với những nghị quyết quan trọng đã góp phần thúc đẩy phong trào công nhân nói chung và phong trào cách mạng Việt Nam nói riêng. Còn ở trong nước, nhờ vào những hoạt động tích cực của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thông qua tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (06/1925), báo Thanh Niên, tác phẩm “Đường Kách Mệnh” và đặc biệt là phong trào “Vô sản hóa” được tổ chức trong những năm 1925-1929, lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền vào Việt  Nam một cách sâu rộng và liên tục. Theo đó, ý thức giác ngộ chính trị của giai cấp công nhân nước ta đã được nâng lên một cách rõ rệt. Hệ quả tất yếu cùng là bước phát triển mới của phong trào công nhân cả về số lượng và chất lượng.

Phong trào

Ngay trong năm 1926, hàng loạt các cuộc đấu tranh của công nhân các nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ ở Bắc Kỳ đã nổ ra. Tiêu biểu là những cuộc bãi công đấu tranh của công nhân nhà máy sợi Nam Định, nhà máy bia rượu Hà Nội-Hà Đông, xi măng Hải Phòng… công nhân đã đấu tranh đòi cải thiện đời sống, cải thiện điều kiện làm việc, chống đánh đập sa thải thợ. Ngoài ra, còn phải kể đến 2 cuộc đấu tranh với quy mô lớn của các đồn điền Cam Tiêm, Phú Riềng ở phía Nam.

Năm 1927, được tiếp nối bằng hàng chục cuộc đấu tranh khác của giai cấp công nhân nổ ra trên phạm vi cả nước.

Đỉnh cao của phong trào đấu tranh giai đoạn này là vào những năm 1928-1929, có hơn 40 cuộc đấu tranh của công nhân. Sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng của phong trào công nhân đã đưa đến một kết quả tất yếu là sự ra đời của ba tổ chức cộng sản đầu tiên ở Việt Nam trong năm 1929: Đông Dương Cộng sản Đảng (6/1929), An Nam Cộng sản Đảng (07/1929), Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (9/1929).

Đặc điểm:

Số lượng: 1926-1927 (27 cuộc đấu tranh của công nhân); 1928-1929 số lượng gấp đôi thời kỳ trước (40 cuộc đấu tranh của công nhân).

Tiêu biểu là các cuộc bãi công ở Nhà máy xi măng Hải Phòng, Nhà máy sợi Nam Định, Nhà máy diêm và Nhà máy cưa Bến Thủy, Xưởng sửa chữa ô tô Avia Hà Nội, Nhà máy sợi Hải Phòng, Mỏ than Hòn Gai, Nhà máy xe lửa Trường Thi (Vinh), Xưởng sửa chữa tàu thuỷ Ba Son (Sài Gòn), Đồn điền cao su Phú Riềng, v.v..

Hình thức đấu tranh: hình thức bãi công được sử dụng phổ biến.

Mục tiêu đấu tranh: kinh tế & chính trị.

Quy mô: liên tục, rộng khắp, có sự lãnh đạo, chỉ huy và phối hợp tranh đấu, tranh thủ được sự ủng hộ của nhân dân. Mức độ đấu tranh sôi nổi, quyết liệt hơn, tính tự phát trong đấu tranh giảm đi, thay bằng những cuộc đấu tranh có ý thức tổ chức với quy mô ngày càng lớn.

Tính chất: tính tự giác cao.

Nhận xét

+ So với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân giai đoạn trước, thời kỳ này phong trào đấu tranh của công nhân nước ta đã có bước chuyển biến rõ rệt:

>> Nếu như trước đó công nhân mới chỉ quan tâm đến mục tiêu kinh tế đòi giới chủ phải thỏa mãn một số yêu cầu do công nhân đưa ra trong lĩnh vực cải thiện đời sống thì nay phong trào đã tiến lên kết hợp chặt chẽ mục tiêu đấu tranh kinh tế với mục tiêu đấu tranh chính trị.

>> Nếu như giai đoạn trước các cuộc đấu tranh thường nổ ra lẻ tẻ, quy mô nhỏ hẹp thì nay các cuộc đấu tranh của công nhân đã diễn ra một cách liên tục và có quy mô lớn, phong trào đã vượt ra khỏi phạm vi một nhà máy xí nghiệp để hình thành thế liên kết ngành, liên kết địa phương. Theo đó, sức mạnh của phong trào công nhân đã tăng lên gấp bội.

>> Nếu như ở thời kỳ trước chỉ có 1/25 cuộc đấu tranh của công nhân là có tính tổ chức thì ở giai đoạn này tất cả các cuộc đấu tranh của công nhân đều được đặt dưới sự lãnh đạo của các tổ chức chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam như Công hội đỏ, Hội Việt Nam Cách mạng  Thanh niên, Tân Việt cách mạng Đảng, và ba tổ chức cộng sản ra đời năm 1929.

=> Những đặc điểm trên cho thấy phong trào công nhân thời kỳ 1925-1929 đã đạt đến trình độ đấu tranh tự giác.

Trải qua 10 đấu tranh, trình độ giác ngộ của công nhân đã nâng lên rõ rệt tuy chưa được đều khắp. Từ chỗ chỉ là một lực lượng trong phong trào yêu nước, giai cấp công nhân dần dần vươn lên vị trí chủ thể của lịch sử. Phong trào công nhân ngày càng có sức thu hút, lôi cuốn mạnh mẽ đối với nhiều tầng lớp nhân dân khác, nhất là nông dân.

Phong trào công nhân và phong trào yêu nước càng lên cao, càng đòi hỏi phải có người tổ chức và lãnh đạo. Nhu cầu thành lập một chính đảng cách mạng đủ sức gánh vác sự nghiệp cứu nước, càng được đặt ra một cách bức xúc.

 Đỗ Hoàng Ánh © 123Chiase 2007

—–& —–

2 Responses to Tiết số 03: Sự phát triển phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

  1. Viet nói:

    Thiếu trầm trọng. Đặc biệt là tác phẩm “đường cách mệnh” của Bác rất quan trọng thì lại không nêu.

  2. nhờ giúp đỡ nói:

    chào bạn.mình đã xem qua bài viết của bạn nhưng không có thấy hình ảnh hoặc đoạn phim tư liệu nào.bạn có thể up lên một số hình ảnh hoặc đoạn phim tư liệu về phong trào đấu tranh theo khuynh hướng vô sản cho mình được không.cảm ơn bạn nhiều.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 89 other followers

%d bloggers like this: