Tiết 1: Sự chuyển biến về kinh tế, xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Sự chuyển biến về kinh tế, hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (Biên soạn: Đỗ Hoàng Ánh   © 123Chiase 2007)

* Bối cảnh lịch sử:

- Từ năm 1858 thực dân Pháp bắt đầu tiến công quân sự để chiếm nước ta. Sau khi đánh chiếm được, chúng  thiết lập bộ máy thống trị thực dân và tiến hành những cuộc khai thác nhằm cướp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa.

+ Ngày 01/09/1858, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Đà Nẵng. Vấp phải sự chống trả quyết liệt của nhà Nguyễn (Tự Đức), chúng chuyển hướng tiến công vào Nam.

+ Trong Hiệp ước Nhâm Tuất (05/06/1862), nhà Nguyễn công nhận 3 tỉnh miền Đông thuộc quyền Pháp cai quản . Phong trào đấu tranh của quần chúng diễn ra liên tiếp, nổi bật là các phong trào do Trương Định, Nguyễn Trung Trực lãnh đạo.

+ Sau cuộc đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ nhất (1873-1874), nhà Nguyễn kí Hiệp ước Giáp Tuất  (15/03/1874) nhượng quyền lợi cho thực dân Pháp ở Nam Kỳ và một số nơi, đổi lại, Pháp rút khỏi Bắc Kỳ.

+ Ngày 26/03/1882, thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ II, Hoàng Diệu tự vẫn.

+ Ngày 6/6/1884, Hiệp định Pa-tơ-nốt được ký đánh dấu sự sụp đổ của triều đình phong kiến độc lập nhà Nguyễn. Nhân dân ta không chịu khuất phục, tiếp tục đấu tranh dưới ngọn cờ Cần Vương (1885-1896).

+ Sau khi dập tắt phong trào Cần Vương, thực dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa lần I (1897-1914) dưới sự chỉ đạo của toàn quyền Đông Dương Pôn Dume.

- Mặc dù là nước thắng trận trong Chiến tranh thế giới I (1914-1918), thế nhưng nước Pháp cũng phải gánh chịu nhưng thiệt hại nặng nề do chiến tranh gây ra. Tất cả các lĩnh vực sản xuất của nền kinh tế nước Pháp đều bị rơi vào tình trạng đình đốn. Theo đó, thế lực và vị trí của nước Pháp cũng bị suy giảm nghiêm trọng.

+ Ở trong nước, do đời sống của các tầng lớp giai cấp trong xã hội bị đe dọa nghiêm trọng nên những mâu thuẫn xã hội cũng được dịp bùng phát.

+ Còn trên bình diện quốc tế, nước Pháp đế quốc bị mất nhiều khu vực quan trọng nơi đã mang về cho nước Pháp những nguồn lợi khổng lồ trước kia. Thêm vào đó, nguồn đầu tư tư bản của tư bản Pháp ở thị trường nước Nga với hàng tỉ phờ-răng đã bị mất trắng từ sau sự kiện thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga (7/11/1917).

+ Những khó khăn đó đã làm cho vị trí của nước Pháp đế quốc bị suy giảm.

- Để cứu vãn tình hình, chính quyền Pháp một mặt tiếp tục đẩy mạnh quá trình bóc lột giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động ở chính nước Pháp. Mặt khác, tăng cường các chính sách biện pháp vơ vét, bóc lột đối với các nước thuộc địa của Pháp trên thế giới trong đó có Đông Dương và Việt Nam.

=> Chương trình khai thác thuộc địa lần II với số vốn đầu tư trên quy mô lớn, tốc độ nhanh của thực dân Pháp tại Đông Dương trong đó có Việt Nam đã diễn ra trong hoàn cảnh lịch sử như thế.

a) Chính sách thống trị, khai thác thuộc địa của Pháp ở Việt Nam

- Về kinh tế, do sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tình hình kinh tế Việt Nam có sự biến đổi: quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ, hình thành nên những đô thị mới, những trung tâm kinh tế và tụ điểm cư dân mới.

+ Nhưng thực dân Pháp không du nhập một cách hoàn chỉnh phương thức tư bản chủ nghĩa vào nước ta, mà vẫn duy trì quan hệ kinh tế phong kiến. Chúng kết hợp hai phương thức bóc lột tư bản và phong kiến để thu lợi nhuận siêu ngạch.

+ Chính vì thế, nước Việt Nam không thể phát triển lên chủ nghĩa tư bản một cách bình thường được, nền kinh tế Việt Nam bị kìm hãm trong vòng lạc hậu, phát triển què quặt và phụ thuộc chặt chẽ vào kinh tế Pháp.

- Về chính trị, chúng tiếp tục thi hành chính sách chuyên chế với bộ máy đàn áp nặng nề.

+ Thực dân Pháp tiếp tục củng cố bộ máy chuyên chế, tập trung toàn bộ quyền lực vào tay người Pháp. Bên cạnh đó, chúng còn sử dụng giai cấp phong kiến Việt Nam làm công cụ đắc lực phục vụ những mục tiêu do chúng đưa ra.

+ Chúng bóp nghẹt tự do, dân chủ, thẳng tay đàn áp, khủng bố, dìm các cuộc đấu tranh của dân ta trong biển máu.

+ Thực dân pháp sử dụng chính sách “Chia để trị” một cách toàn diện hòng làm suy giảm sức mạnh đoàn kết của dân tộc ta, ngăn chặn sức mạnh đấu tranh của nhân dân ta. Chúng chia nước ta làm ba kỳ, mỗi kỳ đặt một chế độ cai trị riêng (Chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ, chế độ bảo hộ ở Trung Kỳ và chế độ nửa bảo hộ ở Bắc Kỳ), nhập ba kỳ đó với nước Lào và nước Campuchia để lập ra Liên bang Đông Dương thuộc Pháp, xóa tên nước ta trên bản đồ thế giới. Chúng gây chia rẽ và thù hận giữa Bắc, Trung, Nam, giữa các tôn giáo, các dân tộc, các địa phương, thậm chí là giữa các dòng họ; giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc trên bán đảo Đông Dương.

- Về văn hóa-xã hội, chúng thi hành triệt để chính sách văn hóa “ngu dân”, gây tâm lý tự ti, vong bản, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan, đồi phong bại tục hòng kìm chế dân ta trong cảnh ngu dốt để dễ bề cai trị, bóc lột.

+ Mọi hoạt động yêu nước của nhân dân ta đều bị cấm đoán. Chúng xây dựng nhà tù nhiều hơn trường học. Nếu có chăng nữa cũng chỉ là những cơ sở đào tạo ra đội ngũ tay sai cho chính quyền thực dân và những công nhân lành nghề phục vụ cho chương trình khai thác thuộc địa.

+ Về mặt xã hội, thực dân Pháp dung túng cho các tệ nạn xã hội: cờ bạc, mại dâm… Chúng còn gieo rắc tư tư tưởng sùng bái nước Pháp, coi nước Pháp là “Mẫu quốc”, là người đi “khai hóa  văn minh”, thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa – thể thao để lôi cuốn nhân dân ta đặc biệt là tầng lớp thanh thiếu niên làm cho họ quên đi nỗi nhục mất nước.

+ Chúng tìm mọi cách bưng bít và ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam và thi hành chính sách ngu dân để dễ bề thống trị.

=> Tóm lại, chính sách thống trị của thực dân Pháp đối với Việt Nam và cả Đông Dương nói chung là một chính sách thống trị chuyên chế về chính trị, bóc lột về kinh tế nhằm đem lại lợi nhuận tối đa về kinh tế, kìm hãm và nô dịch về văn hóa, giáo dục, chứ không phải đem đến cho nhân dân một sự “khai hoá văn minh” – một sự khai hoá và cải tạo thực sự theo kiểu phương Tây. Bản chất của “sứ mạng khai hoá” đó chính là sự khai thác thuộc địa diễn ra dưới lưỡi lê, họng súng, máy chém, v.v..

 

b) Hậu quả với kinh tế, xã hội Việt Nam

* Bởi vì tính chất của các chính sách và biện pháp mà thực dân Pháp thi hành trong chương trình khai thác thuộc địa lần thứ 2 rất toàn diện nên những ảnh hưởng và tác động đối với nước ta cũng được biểu hiện toàn diện thông qua những chuyển biến sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.

- Việt Nam từ một xã hội phong kiến thuần tuý đã biến thành một xã hội thuộc địa. @ Mặc dù thực dân còn duy trì một phần tính chất phong kiến, song khi đã thành thuộc địa thì tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và giai cấp ở Việt Nam đều bị đặt trong quỹ đạo chuyển động của xã hội đó.

- Về kinh tế, cỗ đại bác trong chương trình khai thác lần II của thực dân Pháp đã bắn vỡ thành trì của nền kinh tế truyền thống ở nước nước ta. Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tiếp tục được du nhập vào Việt Nam. Nhưng thực dân Pháp không du nhập một cách hoàn chỉnh phương thức tư bản chủ nghĩa vào nước ta, mà vẫn duy trì quan hệ kinh tế phong kiến. Chúng kết hợp hai phương thức bóc lột tư bản và phong kiến để thu lợi nhuận siêu ngạch. Chính vì thế, nước Việt Nam không thể phát triển lên chủ nghĩa tư bản một cách bình thường được, nền kinh tế Việt Nam bị kìm hãm trong vòng lạc hậu và phụ thuộc nặng nề vào kinh tế Pháp.

- Trong lòng chế độ thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam đã hình thành những mâu thuẫn đan xen nhau [mâu thuẫn dân tộc (toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc xâm lược và tay sai phản động) và mâu thuẫn giai cấp (giữa nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến)], song mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động.

+ Sự thống trị, áp bức và bóc lột càng tăng thì mâu thuẫn đó càng sâu sắc, sự phản kháng và đấu tranh vì sự tồn vong của dân tộc càng phát triển mạnh mẽ, gay gắt về tính chất, đa dạng về nội dung và hình thức. Trái lại, sự xung đột, đấu tranh về quyền lợi riêng của mỗi giai cấp trong nội bộ dân tộc được giảm thiểu và không quyết liệt như cuộc đấu tranh dân tộc. Hồ Chí Minh đã vạch rõ vấn đề này từ năm 1924 rằng: “Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây… Sự xung đột về quyền lợi của họ được giảm thiểu. Điều đó, không thể chối cãi được” (Sđd, 2002, t.1, tr. 464).

+ Để giải quyết hai mâu thuẫn cơ bản, cách mạng nước ta phải thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: chống đế quốc giành độc lập dân tộc, chống phong kiến để giành ruộng đất cho dân cày (nhiệm vụ “phản đế, phản phong”). Hai nhiệm vụ này có mối quan hệ chặt chẽ, không tách rời nhau.

+ Muốn cho cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam đi đến thắng lợi phải có sự tham gia của toàn thể nhân dân bao gồm giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua chính đảng của nó.

- Những biến động kinh tế – văn hóa – xã hội trong các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đẩy nhanh quá trình phân hóa giai cấp sâu sắc trong xã hội Việt Nam.

Kết cấu xã hội Việt Nam thời kỳ này có sự đan xen lồng ghép giữa những giai cấp cũ (địa chủ phong kiến, nông dân) với những giai cấp mới, được coi là sản phẩm trực tiếp của chương trình khai thác thuộc địa lần II (Tư sản, tiểu tư sản và công nhân).

Mỗi giai cấp trong xã hội Việt Nam thời kỳ này lại có điều kiện hình thành, địa vị kinh tế, thái độ chính trị khác nhau nên họ lại chiếm những vị trí khác nhau trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

+ Giai cấp địa chủ phong kiến: ra đời từ trước, nay phản bội quyền lợi dân tộc, làm tay sai cho đế quốc. >> Một số ít địa chủ được Pháp dung dưỡng đã vươn lên trở thành đại địa chủ. Số này làm tay sai đắc lực cho thực dân Pháp chống lại nhân dân. >> Bộ phận còn lại chủ yếu là địa chủ vừa và nhỏ do bị va chạm quyền lợi cho nên ít nhiều có khả năng đứng về phía nhân dân để chống đế quốc, tán thành độc lập dân tộc.

+ Giai cấp nông dân: là đối tượng bóc lột chủ yếu của đế quốc và phong kiến. Họ phải chịu sưu cao, thuế nặng. >> Họ bị cướp đoạt ruộng đất rơi vào cảnh bần cùng phá sản và không có lối thoát do thực dân Pháp kìm hãm công nghiệp thuộc địa (Phương Tây: quá trình bần cùng hóa đi liền với quá trình công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa).  >> Một số ít nông dân sau khi mất ruộng đất, bán sức lao động cho bọn tư bản mà phần lớn Pháp và Hoa Kiều và trở thành công nhân. >> Đại bộ phận nhân dân phải chịu làm tá điền cho địa chủ trên chính thửa ruộng của mình. >> Nông dân là thành phần chủ yếu của dân tộc: chiếm 90% dân số, có truyền thống yêu nước, bất khuất, tha thiết với độc lập tự do và thống nhất tổ quốc => Do đó, nông dân Việt  Nam là một trong hai động lực chủ yếu của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân nước ta.

+ Một số giai cấp mới ra đời:

>> Giai cấp công nhân: ra đời trước Chiến tranh thế giới lần thứ I, bị tư bản Pháp và Hoa Kiều bóc lột. Họ là sản phẩm trực tiếp của quá trình thực dân Pháp xâm lược và khai thác thuộc địa ở Đông Dương. | Sau Chiến tranh, do ảnh hưởng của cuộc khai thách thuộc địa lần II, công nhân Việt Nam đã tăng nhanh về số lượng. Trước chiến tranh số công nhân Việt Nam có khoảng 10 vạn người, 1929 tăng lên 22 vạn người không kể 3 vạn công nhân Việt  Nam làm thuê cho bọn chủ tư bản Hoa Kiều và tư bản bản xứ. | Mặc dù còn non trẻ và số lượng còn ít nhưng công nhân Việt Nam có đầy đủ những đặc điểm chung của công nhân quốc tế: đại diện cho một phương thức sản xuất tiên tiến nhất, cho nên họ có khả năng nhận thức được quy luật phát triển khách quan của xã hội, có tinh thần đoàn kết và ý thức tổ chức kỷ luật rất cao (sống tập trung, sản xuất dây truyền), có tinh thần cách mạng triệt để, không nửa vời, không cải lương. Do công nhân là giai cấp vô sản, không có tài sản, đấu tranh chống tư sản không có gì mất, có mất chỉ mất xiềng xích, nô lệ, được được cả thế giới. Công nhân  Việt  Nam còn đó đặc điểm riêng: có quan hệ rất mật thiết với nông dân (do xuất thân từ nông dân) do đó công nhân  Việt  Nam dễ dàng liên minh với nông dân để cùng đấu tranh chống kẻ thù chung; bị ba tầng áp bức bóc lột nặng nề (phong kiến, đế quốc, tư sản bản xứ); công nhân Việt Nam vừa ra đời đã thừa hưởng được truyền thống kiên cường bất khuất của dân tộc, không có tầng lớp công nhân quý tộc (công nhân cổ cồn) cho nên họ không bị ảnh hưởng chủ nghĩa hữu khuynh (thỏa hiệp, cải lương). Mặt khác, công nhân Việt Nam ra đời và lớn lên vào lúc chủ nghĩa tư bản trên thế giới đang bước vào giai đoạn suy yếu, chủ nghĩa xã hội đã hình thành. Do vậy, công nhân Việt Nam dễ dàng tiếp thu lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Tất cả những đặc điểm về kinh tế, chính trị và lịch sử trên đây làm cho công nhân Việt Nam sớm trở thành một giai cấp duy nhất có khả năng lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta.

>> Tư sản: Trước Chiến tranh thế giới I mới chỉ là một tầng lớp nhỏ bé, kinh doanh lẻ tẻ trong một số ngành, chủ yếu là các ngành dịch vụ. | Sau Chiến tranh, nhân đà làm ăn thuận lợi trong Chiến tranh, do sự cạnh tranh của tư bản Pháp có phần được nới lỏng. Nhân đà đó, tư sản Việt Nam đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh muốn vươn lên giành lấy vị trí khá hơn trong nền kinh tế. Nhiều nhà tư sản Việt Nam đã hùn vốn với tư bản Pháp để lập đồn điền, khai thác mỏ, một số nhà tư sản Việt Nam mạnh dạn bỏ vốn đứng ra lập ngân hàng. | Trên đà phát triển đó, giai cấp tư sản Việt Nam hình thành vào khoảng năm 1924.| Vì ra đời và lớn lên ở một nước thuộc địa nửa phong kiến lại bị đế quốc chèn ép và phong kiến kìm hãm cho nên khi phát triển mức độ nhất định, giai cấp tư sản Việt Nam bị phân hóa thành 2 bộ phận: tư sản mại bản có quyền lợi gắn liền với đế quốc, làm tay sai cho đế quốc. Số này là kẻ thù của cách mạng; tư sản dân tộc vừa ra đời đã bị đế quốc chèn ép và phong kiến kìm hãm cho nên thế lực kinh tế của họ rất nhỏ bé: toàn bộ số vốn của tư sản  Việt  Nam chỉ bằng 5% số vốn của tư bản nước ngoài. | Trong hoàn cảnh ấy, tư sản dân tộc Việt Nam mang tính hai mặt: tích cực (ít nhiều có tinh thần dân tộc dân chủ chống đế quốc và phong kiến) và tiêu cực (thường có khuynh hướng cải lương và thỏa hiệp => do vậy tư sản dân tộc nước ta không có khả năng lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc, họ là một trong bốn lực lượng của cuộc cách mạng  dân tộc dân chủ nhân dân nước ta).

>> Tiểu tư sản: ra đời cùng thời với giai cấp tư sản và phát triển nhanh về số lượng | Bao gồm nhiều tầng lớp: trí thức, học sinh, sinh viên, thợ thủ công, tiểu thương, tiểu chủ… | Sống chủ yếu ở thành thị, cũng bị đế quốc phong kiến áp bức, bóc lột, khinh rẻ do đó phần lớn tiểu tư sản Việt Nam, nhất là tầng lớp trí thức có tinh thần yếu nước rất hăng hái tham gia đấu tranh cách mạng. => Tiểu tư sản Việt Nam là người bạn đồng minh rất đáng tin cậy của giai cấp công nhân trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân nước ta.

Biên soạn: Đỗ Hoàng Ánh   © 123Chiase 2007

—– & —–

Biên soạn: Đỗ Hoàng Ánh   © 123Chiase 2007

2 Responses to Tiết 1: Sự chuyển biến về kinh tế, xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

  1. Cả đời dạy sử nói:

    Tốt đấy.

  2. cho biết chuyển biến nào quan trọng nhất ? vì sao ? có hết tất cả ở đây phải không ạ ? em cám ơn rất nhiều ,rất hữu ích và hay

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 90 other followers

%d bloggers like this: