GIƯƠNG CAO NGỌN CỜ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA Xà HỘI, Bài học GIƯƠNG CAO NGỌN CỜ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XàHỘI

GIƯƠNG CAO NGỌN CỜ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA HỘI

Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là bài học được Đại hội lần thứ IV của Đảng rút ra từ thực tiễn phong phú của cách mạng nước ta, được các Đại hội lần thứ V, VI, VII, VIII, IX, X, XI (2011) của Đảng tiếp tục khẳng định và phát triển với nội dung mới qua tổng kết kinh nghiệm tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên phạm vi cả nước.

Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đường lối đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng, là ngọn cờ bách chiến bách thắng của cách mạng Việt Nam. Đó vừa là bài học, vừa là nguyên nhân, nguồn gốc, cơ sở vững chắc cho những thành công có ý nghĩa lịch sử của Việt Nam trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Bài học trên là sự phản ánh sinh động xu thế cách mạng của thời đại cũng như của nước ta, không những chỉ ra nguồn gốc thắng lợi của cách mạng Việt Nam trước đây, mà còn chỉ ra những yếu tố bảo đảm tính đúng đắn của đường lối và sự thắng lợi của cách mạng trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội.

1. Bài học này có cơ sở như sau:

Gắn liền độc lập dân tộc với CNXH là sự lựa chọn đúng đắn của các quốc gia dân tộc trong thời đại ngày nay.

Thứ nhất, theo V.I Lênin và các nhà kinh điển của CNXH khoa học đã khẳng định: ĐLDT gắn với CNXH là phù hợp với quy luật và xu thế phát triển khách quan của lịch sử xã hội loài người; rằng CNTB sẽ bị phủ định, CNXH và CNCS sẽ là xã hội tốt đẹp hơn kế tiếp sau CNTB; rằng Chỉ có CNXH mới xoá bỏ được căn nguyên kinh tế sâu xa của tình trạng người bóc lột người do chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất sinh ra. Nhờ đó, nó xoá bỏ tận gốc cơ sở kinh tế làm nảy sinh ách áp bức con người về chính trị, sự nô dịch con người về tinh thần, tư tưởng và ý thức. Nhiều nhà nghiên cứu cũng khẳng định đó là dòng chảy của lịch sử, không ai có thể cưỡng lại được, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội, dù lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co.

Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cách mạng giải phóng dân tộc vào quỹ đạo cách mạng vô sản. Điều quan trọng hơn, Người còn cho rằng cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa không thụ động lệ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có tính độc lập, có thể thắng lợi trước cách mạng chính quốc. Nhiệm vụ giải phóng dân tộc phải được ưu tiên thực hiện trước, là bước đi tất yếu để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cách mạng xã hội chủ nghĩa tuy là phương hướng tiến lên trong tương lai, nhưng lại có ảnh hưởng quyết định đến tính chất triệt để và sức mạnh của cách mạng giải phóng dân tộc. Tư tưởng này là cơ sở định hướng đúng đắn cho hoạt động của Đảng và nhân dân ta ở mỗi thời kỳ cũng như toàn bộ cuộc đấu tranh, là điều kiện để tập hợp lực lượng, tạo nên sức mạnh tổng hợp cho cách mạng. Bởi vậy, nắm vững, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là cội nguồn thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Thứ ba, thực tế hơn 70 năm tồn tại của CNXH hiện thực cho chúng ta thấy, mặc dù có những khuyết điểm sai lầm chủ quan, song CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đã thể hiện tính ưu việt từ trong bản chất của nó. Hiện nay số đông quần chúng lao động ở các nước đó đã thấy cái giá phải trả rất đau đớn cho sự từ bỏ con đường XHCN.

Thứ tư, thực tế cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta: nếu như việc giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, gắn liền độc lập dân tộc với CNXH đã góp phần đưa nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác trong 80 năm qua, thì ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới, sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH cũng vẫn là vấn đề cốt tử hàng đầu, là sự đảm bảo chắc chắn cho những thắng lợi của chúng ta trong sự nghiệp phấn đấu cho mục tiêu Việt Nam: dân giàu, nước mạnh, dân chủ,  công bằng, văn minh.

2. Quá trình nhận thức về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng qua các kỳ Đại hội Đảng

* Từ Đại hội IV (12-1976) đến Đại hội X (4-2006), tổng kết lịch sử cách mạng Việt Nam Đảng ta thường nêu bài học kinh nghiệm mang nội dung độc lập dân tộc và CNXH. Trong đó có thể chia thành hai dạng trình bày:

Đại hội IV (12.1976), Đại hội VII (6.1991) đều trình bày cùng quan điểm. Đại hội IV khởi xướng bài học kinh nghiệm này và lý giải kỹ qua nhiều lài liệu cụ thể: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH cho rằng: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH. Đó là bài học xuyên suốt quá trình cách mạng nước ta’.

Từ Đại hội VIII (6.1996) đến nay đều trình bày theo quan điểm như Đại hội X (4.2006): ‘Trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Những điểm khác nhau của hai cách trình bày trên có thể nhận thấy:

Thứ nhất, cách trình bày trước (từ Đại hội VII về trước) là tổng kết toàn bộ lịch sử cách mạng Việt Nam. Coi đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử từ khi có Đảng. Cách trình bày sau chỉ là bài học của quá trình đổi mới. Như vậy phạm vi bao quát của kinh nghiệm không đồng nhất.

Thứ hai, cách trình bày trước coi đây là “ngọn cờ” lý luận, tư tuởng có vai trò nhu “Sợi chỉ đỏ xuyên suốt” để giải quyết thành công một loạt vấn đề của đường lối cách mạng và tạo ra sức mạnh bách chiến bách thắng. Cách trình bày sau đều coi đây là mục tiêu của cách mạng. Mục tiêu cách mạng là một trong những vấn đề chiến lược của đường lối chính trị. Lý luận, tư tưởng và chiến lược cách mạng, hay mục tiêu cách mạng, có liên quan nhau nhưng không phải là một. Vì vậy để xác định cơ sở lý luận và tư tuởng của kiên định mục tiêu chiến lược, các Đại hội sau nêu thêm “trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Thứ ba, cách trình bày trước coi đây là “nguồn gốc” cùa mọi thắng lợi, là “ngọn cờ vinh quang” mà Chù tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho các thế hệ Việt Nam. Cách trình bày sau coi đây là vấn đề cần “giữ vững”, “kiên trì”, “kiên định”. Là “nguồn gốc”, là “ngọn cờ” có nghĩa là còn phải khai thác, vận dụng mới có đáp số, có lời giải cho yêu cầu của thực tiễn; nó chi phối mọi vấn đề của cách mạng. Còn “kiên định”, “giữ vững” là bảo vệ vững chắc, không hề lay chuyển cái đã có, đã xác định. Đó là mục tiêu cách mạng đúng đắn. Nguồn gốc ở đây là của toàn bộ vấn đề cách mạng, kiên định ở đây là một vấn đề: mục tiêu cách mạng.

Đó là 3 vấn đề khác nhau của 2 dạng bài học lịch sử đều đề cập đến độc lập dân tộc và CNXH. Không nên nhầm lẫn và không thể nhầm lẫn. Tuy khác nhau nhưng không phủ định nhau mà còn làm phong phú thêm bài học kinh nghiệm lịch sử của cách mạng Việt Nam.

* Đại hội XI (2011):

Từ thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tại Đại hội lần thứ XI của Đảng đã tiếp tục khẳng định bài học đầu tiên trong 5 bài học chủ yếu rút ra trong quá trình đổi mới là: “nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau”. Đó vừa là bài học, vừa là nguyên nhân, nguồn gốc, cơ sở vững chắc cho những thành công có ý nghĩa lịch sử của Việt Nam trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

3. Quá trình nhận thức về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng qua các thời kỳ lãnh đạo cách mạng trên thực tiễn:

Tư tưởng chiến lược nắm vững, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã được Đảng ta khẳng định trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên khi Đảng thành lập và được khẳng định tiếp tục trong các cương lĩnh tiếp theo, đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

3.1) Trước năm 1930, các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta, do chưa có định hướng xã hội chủ nghĩa, mà đi theo khuynh hướng phong kiến, tư sản, tiểu tư sản, nên dù rất anh dũng, cuối cùng đều đã bị thất bại.

Đường lối nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng đã khắc phục những hạn chế của nhiều nhà yêu nước trước đây là chưa thấy rõ con đường tiến lên của dân tộc. Chính hạn chế đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến bế tắc, thất bại của phong trào giải phóng dân tộc kiểu cũ ở nước ta.

Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam ra đời là biểu hiện đầy đủ về sự thống nhất giữa xu hướng phát triển chung của thời đại và của riêng nước ta; đáp ứng đúng đòi hỏi của tư tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội gắn liền với nhau, đồng thời là lực lượng duy nhất có khả nǎng lãnh đạo thực hiện thắng lợi tư tưởng đó.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn luôn nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì vậy đã giải quyết đúng đắn hàng loạt vấn đề lớn của cách mạng Việt Nam và đã giành được những thắng lợi vĩ đại.

3.2) Trong những năm 1930-1945, nắm vững và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, tổn thất, từng bước giành được những thắng lợi to lớn, đỉnh cao là cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Trong cách mạng nước ta, khởi đầu là giai đoạn đấu tranh giành chính quyền, việc giải quyết mối quan hệ giữa nhiệm vụ chống đế quốc và nhiệm vụ chống phong kiến để có thể phát huy cao độ yếu tố dân tộc là vấn đề chứa nhiều thách thức, phức tạp.

Đảng phải mất một thời gian tương đối dài mới đạt được sự nhất trí cao. Trong mấy nǎm đầu của lịch sử Đảng, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh không được nhiều đồng chí ở trong cũng như ở ngoài nước chấp nhận và bị thay thế bằng một đường lối “cứng rắn” dựa trên cơ sở đơn thuần vận dụng hay quá nhấn mạnh lý luận giai cấp và đấu tranh giai cấp. Thực tiễn ngày càng chỉ rõ quan điểm “cứng rắn” đó không phù hợp với lý luận và thực tiễn của cách mạng nước ta.

Từ nǎm 1939 trở đi, đặc biệt trong Hội nghị trung ương 8 (5-1941) tư tưởng chiến lược cách mạng của nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc được toàn Đảng chấp nhận và phát triển thêm. Điều đó đã góp phần quan trọng vào việc phát động cuộc Tổng khởi nghĩa mang tính toàn dân dẫn đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, là cơ sở của cuộc chiến tranh nhân dân rộng lớn chống thực dân Pháp xâm lược.

3.3) Từ năm 1945 đến năm 1954, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được Đảng thể hiện qua đường lối kết hợp kháng chiến với kiến quốc, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa ba nhiệm vụ chiến lược chống đế quốc, chống phong kiến và xây dựng chế độ dân chủ nhân dân gây mầm mống cho chủ nghĩa xã hội, tạo nên sức mạnh to lớn cho dân tộc ta, đưa kháng chiến đến thắng lợi.

Đại hội toàn quốc lần thứ II của Đảng (2-1951) đã định rõ “nhiệm vụ giải phóng dân tộc bao gồm nhiệm vụ phản phong kiến”, và thay khái niệm “cách mạng tư sản dân quyền” bằng khái niệm “cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân”.

Nhận thức của Đảng đã rõ ràng. Tuy nhiên, trong việc tổ chức thực hiện, Đảng đã phạm sai lầm hữu khuynh, có lúc quá chú trọng tranh thủ tầng lớp trên, coi nhẹ phát triển lực lượng công nhân, và sai lầm tả khuynh trong cải cách ruộng đất.

Từ những thành công cũng như sai lầm nghiêm trọng dù là tạm thời, Đảng đã rút ra bài học quan trọng về mối quan hệ giữa chiến lược và sự chỉ đạo chiến lược. Đó là: “nắm vững và giương cao ngọn cờ dân tộc và dân chủ với hai khẩu hiệu chiến lược “dân tộc độc lập” và “người cày có ruộng”.

Đảng ta đã lôi cuốn được đông đảo nông dân đi theo giai cấp công nhân, động viên được các tầng lớp nhân dân khác cùng với công, nông bước lên trận tuyến cách mạng chống đế quốc và phong kiến.

Trong quá trình cách mạng, những nhiệm vụ chiến lược đó đã được cụ thể hoá bằng những mục tiêu thích hợp với từng thời kỳ, dựa trên sự phân tích những mối quan hệ giai cấp cụ thể và khả nǎng phân hoá hàng ngũ kẻ thù đế quốc và phong kiến, nhằm tập trung ngọn lửa cách mạng vào kẻ thù nguy hại nhất trong từng lúc một.

Song, dù ở bất cứ thời kỳ nào, những mục tiêu và nhiệm vụ chính trị cụ thể do Đảng đề ra, về cơ bản đều bao hàm cả hai nội dung dân tộc và dân chủ, về cơ bản đều gắn liền hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến”.

Như vậy về mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược, Đảng đã nhận thức đầy đủ hơn, diễn đạt rõ ràng hơn, có tính lý luận sâu sắc và bảo đảm cho Đảng tránh mắc sai lầm tả hữu khuynh trong việc lãnh đạo hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam trong thời kỳ chống đế quốc Mỹ.

3.4) Từ năm 1954 đến năm 1975, bài học đó được thể hiện trong đường lối tiến hành đồng thời và kết hợp chặt chẽ hai chiến lược cách mạng khác nhau ở hai miền: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, nhằm thực hiện mục tiêu chung là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Nhờ có đường lối độc lập tự chủ, sáng tạo này Đảng đã huy động được tối đa sức mạnh của hai miền, sức mạnh cả nước, sức mạnh của thời đại, đủ sức đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược.

Từ nǎm 1954, hoà bình được lập lại, đặc điểm lớn nhất của nước ta là tạm thời bị chia cắt làm hai miền, với hai chế độ chính trị đối lập. Đảng ta phải giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ cách mạng ở hai miền.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960) đã quyết định đường lối cách mạng chung của cả nước: – “Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. – Hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước. Hai nhiệm vụ chiến lược ấy có quan hệ mật thiết với nhau và có tác dụng thúc đẩy lẫn nhau”. Thông qua thực hiện nhiệm vụ cách mạng ở mỗi miền mà góp phần thực hiện nhiệm vụ chung của cả nước là hoàn thành độc lập, thống nhất đất nước. Đường lối trên biểu hiện tinh thần độc lập tự chủ, sáng tạo của Đảng ta.

Từ việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai chiến lược cách mạng, Đảng ta đã giải quyết sáng tạo một loạt vấn đề lớn như đẩy mạnh cách mạng và bảo vệ hoà bình thế giới, ở khu vực và hoà bình tương đối ở ngay miền Bắc; giữa tiến công và bảo vệ…; bác bỏ những quan điểm hữu khuynh và phiêu lưu.

“Một Đảng thống nhất lãnh đạo một nước tạm thời bị chia cắt làm đôi, tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau, đó là đặc điểm lớn nhất và cũng là nét độc đáo của cách mạng nước ta từ tháng 7 nǎm 1954 đến tháng 5 nǎm 1975″.

Cách mạng Việt Nam đã chứng minh một tư tưởng lớn của thời đại ngày nay là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội gắn liền với nhau và bằng kinh nghiệm của mình, cách mạng nước ta đã góp phần làm giàu thêm nội dung kết luận trên.

Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là bài học quan trọng của Đảng, tiếp tục quán triệt trong giai đoạn lịch sử mới.

3.5) Từ năm 1975 đến nay, khi cả nước đã giành được độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng đã đề ra đường lối kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc thống nhất. Đường lối đó đã củng cố, giữ vững độc lập tạo điều kiện để xây chủ nghĩa xã hội, và xây dựng chủ nghĩa xã hội lại tạo ra cơ sở vật chất, tinh thần để bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Khi tình hình quốc tế có những chuyển biến mới, hệ thống xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng và sụp đổ, bài học giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được Đảng thể hiện trong đường lối đổi mới, chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, phát huy nội lực, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài, mở rộng giao lưu văn hóa, giữ vững bản sắc dân tộc…

Trong thời điểm hiện nay, để nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đòi hỏi phải: thực hiện được hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân; kiên trì chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, phát huy tinh thần độc lập, tự chủ sáng tạo, bám sát thực tiễn của đất nước, thực tiễn của thời đại để đề ra đường lối đúng, hợp lòng dân và có những bước đi, biện pháp thích hợp. Kết hợp sự kiên định về nguyên tắc chiến lược với sự linh hoạt sáng tạo trong sách lược…

***

Kết luận

Sự hình thành và phát triển quan điểm của Đảng về bài học nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là một đề tài rộng lớn, phức tạp, do vậy, bài viết này chỉ phản ánh bước đầu trong một giới hạn nghiên cứu nhất định để góp phần vào việc nghiên cứu chung: cơ sở lý luận, nhận thức của Đảng qua các kỳ Đại hội và qua thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã góp phần giúp Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành được những thành tựu mới trong công cuộc bảo vệ đất nước Việt Nam thống nhất, vượt qua khủng hoảng kinh tế – xã hội, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

http://duongcachmenh.wordpress.com

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 92 other followers

%d bloggers like this: