Phân tích những quan điểm đổi mới của Đảng về CNH, hiện đại hóa thể hiện trong đh đại biểu toàn quốc lần thứ 8 của Đảng

Trong Stream 1

Trong Stream 1 (Photo credit: Shamsul Hidayat Omar)

Phân tích những quan điểm đổi mới của Đảng về CNH, hiện đại hóa thể hiện trong đh đại biểu toàn quốc lần thứ 8 của Đảng

Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay cho rằng CNH, hiện đại hóa chính là con đường đẩy nhanh tốc độ phát triển LLSX trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội, là cơ sở để cải biến thành công xã hội cũ thành xã hội mới, đem đến sự giàu có, ấm no, tự do, hạnh phúc, dân chủ, công bằng, văn minh cho mọi công dân Việt Nam.

Nhận thức rõ vai trò của CNH với sự hưng thịnh của quốc gia dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có hơn nửa thế kỷ liên tục (52 năm: 1960-2012) lãnh đạo nhiều triệu dân trên lãnh thổ hơn 331 nghìn km2 thực hiện CNH theo những quan niệm, mô hình và cơ chế rất khác nhau với những thể nghiệm, tìm tòi, rồi điều chỉnh, bổ sung, phát triển để không ngừng hoàn thiện.

Đại hội VIII của Đảng (6-1996) đưa ra đường lối CNH, hiện đại hoá có nhiều điểm khác căn bản về hình thức, nội dung, bước đi và giải pháp tiến hành so với CNH thời kỳ trước đây, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về CNH đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Đại hội VIII đã có nhận định quan trọng sau khi nhìn lại đất nước sau mười năm đổi mới: nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho CNH đã cơ bản hoàn thành cho phép chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Đại hội tiếp tục khẳng định quan niệm về CNH, HĐH nêu ra ở Hội nghị trung ương 7 khóa VII. Đại hội nêu ra sáu điểm về CNH, HĐH và định hướng những nội dung cơ bản của CNH, HĐH những năm còn lại của thập kỷ 90, thế kỷ XX.

***

1.Chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước

* Đại hội VI (12-1986): Việt Nam chưa thể đẩy mạnh CNH

Sau 26 năm (1960-1986) thực hiện, một trong những câu hỏi đặt ra với sự lãnh đạo của Đảng là: sau thời gian dài thực hiện đường lối CNH (gần 3 thập kỷ), bây giờ Việt Nam có cần và có thể đẩy mạnh CNH hay không?

Trên tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật” Đại hội VI của Đảng đã xác định: trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ chưa thể đẩy mạnh CNH, mà là tạo tiền đề cần thiết để đẩy mạnh CNH ở chặng đường tiếp theo. Đại hội VI khẳng định nhiệm vụ của chặng đường đầu tiên là nhằm ổn định mọi mặt tình hình kinh tế – xã hội, tạo tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh CNH ở chặng đường tiếp theo. Đây chính là những thay đổi căn bản quan niệm về bước đi, tốc độ của quá trình CNH XHCN.

* Đại hội VIII (6/1996): chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh CNH, hiện đại hóa

- Thế và lực mới trong nước cộng hưởng với thời cơ, thách thức, nguy cơ mới của thời đại là những cơ sở cho cho sự hoạch định đường lối CNH của Đảng.

Sau 10 năm đổi mới, thế bao vây cấm vận đã bị phá vỡ, nước ta bước đầu hội nhập vào đời sống kinh tế khu vực và thế giới; nền kinh tế liên tục tăng trưởng cao, cơ cấu ngành kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng CNH; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều nhu cầu bức xúc của nhân dân về xã hội từng bước được giải quyết; quốc phòng – an ninh được giữ vững. Đại hội VIII đánh giá đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội.

Bên cạnh đó, bối cảnh xu thế vừa hợp tác, vừa đấu tranh trở thành dùng chủ lưu trong quan hệ quốc tế; cạnh tranh phát triển kinh tế trong hoà bình, tránh đối đầu trở thành phương châm chỉ đạo đường hướng, chính sách đối ngoại của hầu hết các quốc gia; cách mạng khoa học – công nghệ tiếp tục có bước phát triển như vũ bão, đặc biệt là công nghệ thông tin, số hoá, điện tử, vật liệu mới, năng lượng mới, công nghệ sinh học.

Nguy cơ mới cũng đặt ra, trong đó đặc biệt phải kể đến nguy cơ: tụt hậu xa hơn, nhanh hơn về sức mạnh tổng hợp (tâm điểm là kinh tế) so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.

- Những chuyển biến nói trên đã đặt ra cho Đại hội VIII tầm nhìn mới về khả năng đưa đất nước chính thức chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh CNH, hiện đại hoá.

- Trên cơ sở nền kinh tế đã thoát khỏi khủng hoảng, đời sống nhân dân được cải thiện, an ninh chính trị ổn định, quan hệ đối ngoại được mở rộng, Đại hội VIII (6/1996) nhận định rằng, nước ta đã hoàn thành cơ bản việc chuẩn bị tiền đề cho CNH, hiện đại hoá và bắt đầu chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh CNH, hiện đại hoá đất nước nhằm đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp sau khoảng 25 năm.

2. Bổ sung, phát triển bằng 6 quan điểm lớn chỉ đạo quá trình CNH, hiện đại hoá

Trên cơ sở các quan điểm của Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương bảy khoá VII, Đại hội VIII đã bổ sung, phát triển thành 6 quan điểm lớn chỉ đạo quá trình CNH, hiện đại hoá:

- Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại. Dựa vào nguồn lực trong nước và chính đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài. Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả.

- CNH, hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.

- Lấy phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Động viên toàn dân cần kiệm xây dựng đất nước, không ngừng tăng tích luỹ cho đầu tư phát triển. Tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hoá, giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường.

- Khoa học và công nghệ là động lực của CNH, hiện đại hoá. Kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại; tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định.

- Lấy hiệu quả kinh tế – xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư và công nghệ. Đầu tư chiều sâu, khai thác tối đa năng lực sản xuất hiện có. Trong phát triển mới, ưu tiên quy mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến, tạo nhiều việc làm, thu hồi vốn nhanh; đồng thời xây dựng một số công trình quy mô lớn cần thiết và có hiệu quả. Tạo ra những mũi nhọn trong từng bước phát triển. Tập trung thích đáng nguồn lực cho các lĩnh vực, các địa bàn trọng điểm; đồng thời quan tâm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của mọi vùng trong nước; có chính sách hỗ trợ những vùng khó khăn, tạo điều kiện cho các vùng đều phát triển.

- Kết hợp kinh tế với quốc phòng – an ninh.

Nhưng quan điểm tổng quát trên đây đã cho thấy: đây là là sự kết hợp giữa chiến lược CNH thay thế nhập khẩu và hướng về xuất khẩu, trong đó nhấn mạnh nguyên tắc lấy xuất khẩu làm hướng chính, thực hiện ngay ở giai đoạn đầu CNH đất nước, đồng thời kết hợp với sản xuất thay thế nhập khẩu ở những lĩnh vực trong nước sản xuất có hiệu quả. Việc chuyển sang chiến lược CNH mới, dựa trên nguyên tắc thị trường và định hướng xuất khẩu, có nghĩa là coi thị trường bên ngoài trở thành một động lực đặc biệt quan trọng cho sự phát triển. Sự lựa chọn chiến lược đó thể hiện rõ quan điểm mở cửa, thực hiện phát triển mạnh nền kinh tế hướng ngoại. Thực hiện chiến lược này đòi hỏi phải cơ cấu lại nền kinh tế nước ta trong mối quan hệ cạnh tranh trên thị trường thế giới.

Như vậy, so với đường lối CNH XHCN trước đây thì  quan niệm CNH, hiện đại hoá theo đường lối của Đại hội VIII đã có sự khác nhau căn bản về hình thức, nội dung, bước đi và giải pháp tiến hành, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về CNH đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

3. Định hướng những nội dung cơ bản của CNH, HĐH những năm còn lại của thập kỷ 90, thế kỷ XX

Nội dung CNH, hiện đại hóa ở nước ta trong những năm cuối cùng của thế kỷ XX, theo đường lối của Đại hội VIII, là:

+ Đặc biệt coi trọng CNH, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn; + phát triển toàn diện nông, lâm nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản; phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.

+ Nâng cấp, cải tạo, mở rộng và xây dựng mới có trọng điểm kết cấu hạ tầng kinh tế, trước hết ở những khâu ách tắc và yếu kém nhất đang cản trở sự phát triển.

+ Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng trọng yếu và hết sức cấp thiết, có điều kiện về vốn, công nghệ, thị trường, phát huy tác dụng nhanh và có hiệu quả cao.

+ Mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ. Đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại.

+ Hình thành dần một số ngành mũi nhọn như chế biến nông, lâm, thủy sản, khai thác và chế biến dầu – khí, một số ngành cơ khí chế tạo, công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin, du lịch.

+ Phát triển mạnh sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ.

***

Những quan điểm đổi mới của Đảng về CNH, hiện đại hóa thể hiện trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 8 của Đảng là một trong những nguyên nhân đưa đến sự chuyển biến tích cực trong quá trình CNH của Việt Nam. Điều này thể hiện rõ qua kết quả thực hiện đường lối Đại hội VIII.

+ Mặc dù trong bối cảnh gặp tác động không thuận của khủng hoảng tài chính – tiền tệ Đông Á 1997-1998, nhưng nền kinh tế đất nước vẫn chuyển động theo hướng CNH, hiện đại hoá.  Nổi bật là nông nghiệp phát triển liên tục, góp phần quan trọng vào mức tăng trưởng chung và giữ vững ổn định kinh tế – xã hội. Công nghiệp và xây dựng vượt qua những khó khăn, thách thức, đạt nhiều tiến bộ. Các ngành dịch vụ tiếp tục phát triển trong điều kiện khó khăn hơn trước, góp phần tích cực cho tăng trưởng kinh tế và phục vụ đời sống. Nhìn tổng thể, cơ cấu kinh tế đã có bước chuyển dịch tích cực. Các vùng kinh tế gắn với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của các địa phương, các đô thị, các địa bàn, lãnh thổ, đặc biệt là các vùng kinh tế trọng điểm ở 3 miền được xây dựng và hình thành từng bước. Cơ cấu thành phần kinh tế đã có sự dịch chuyển theo hướng sắp xếp lại và đổi mới khu vực kinh tế nhà nước, phát huy tiềm năng khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Các cân đối chủ yếu của nền kinh tế đã được điều chỉnh thích hợp để duy trì khả năng tăng trưởng kinh tế và ổn định đời sống nhân dân. Kinh tế đối ngoại tiếp tục phát triển.

+ Tuy vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn chưa đạt mục tiêu mà Đại hội VIII đã đề ra, nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp. Nhịp độ tăng trưởng kinh tế 5 năm 1996 – 2000 chậm dần, năm 2000 có tăng trở lại nhưng vẫn chưa đạt mức tăng trưởng cao như những năm giữa thập niên 90. Năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm chưa tốt, giá thành cao. Nhiều sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp thiếu thị trường tiêu thụ cả ở trong và ngoài nước, một phần do thiếu sức cạnh tranh. Cơ cấu đầu tư chưa hợp lý; đầu tư còn phân tán, lãng phí và thất thoát   còn phổ biến ở nhiều khâu, nhiều nơi. Nhịp độ thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài giảm.

Đại hội VIII với những đổi mới trong tư duy CNH, hiện đại hóa đã có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình xây dựng quốc gia đạt các mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 90 other followers

%d bloggers like this: